Hội làm vườn và trang trại Thanh Hóa
  • Liên kết website
  • Thống kê truy cập
  • Đang online: 17

    Hôm nay: 318

    Đã truy cập: 3596539

HỘI LÀM VƯỜN VÀ TRANG TRẠI HUYỆN NGA SƠN THỰC HIỆN MÔ HÌNH VƯỜN HỘ, TRANG TRẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ, TUẦN HOÀN, KHÔNG CHẤT THẢI

 
Phát triển kinh tế vườn hộ, trang trại hàng hóa nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không rác thải là việc cần làm, phải làm vì đó là mệnh lệnh của cuộc sống cả trước mắt và lâu dài của mỗi cán bộ hội viên trong tổ chức hội. Đồng thời có trách nhiệm cao trong tổ chức thực hiện có kết quả, từ đó rút kinh nghiệm hướng dẫn hội viên nông dân cùng làm theo.
I. Mỗi cán bộ, hội viên cần gương mẫu trong học tập, nắm vững nội dung, công việc cần làm trong tổ chức thực hiện, với tư cách là chủ thể trong thực hiện và hưởng thụ thành quả đem lại.
1. Thực trạng kinh tế vườn hộ trang trại của huyện Nga Sơn
Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ hội viên, phong trào cải tạo vườn tạp, mở rộng diện tích vườn hộ trang trại sản xuất hàng hóa, nhiều năm qua phát triển nhanh, đem lại giá trị thu nhập khá, chiếm tỷ trọng không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
 Phong trào các năm sau có bước phát triển mới, đem lại hiệu quả cao hơn năm trước, đã và đang trở thành nghề làm kinh tế vườn, trại trong nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn.
 Song một thời gian khá dài, phát triển kinh tế vườn hộ, trang trại đơn thuần chỉ vì lợi nhuận. Đất sản xuất bị thoái hóa theo thời gian, bạc màu, chai cứng. Môi trường đất, bề mặt, nước ngầm bị ô nhiễm nặng; làm cho sản phẩm, cây trồng, con nuôi còn lại nhiều dư lượng độc tố, gây tâm lý phân tâm cho người sử dụng. Ngoài rác thải nông nghiệp trong vườn hộ, trang trại và trong sinh hoạt trở thành thảm họa khó lường, làm mất đi cảnh quan văn hóa ở nông thôn, làng xã. Nhiều bệnh hiểm nghèo xuất hiện có liên quan đến quá trình sản xuất; sử dụng các sản phẩm lương thực, rau, củ, quả, thực phẩm không an toàn vệ sinh thực phẩm, nông sản.
 
 Giá thành sản xuất đầu vào cao, giá trị thu được thấp; chưa tương xứng với sức lao động, vốn đầu tư trong quá trình sản xuất.
 2. Tìm học, để biết, hiểu, nắm vững những việc cần làm thực hiện nền “nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải”
Khu sản xuất rau sạch tại huyện Nga Sơn
2.1. Từ khát vọng làm giàu, phát triển kinh tế vườn hộ trang trại; mỗi nhà vườn, trang trại, người lao động cần phải vươn lên, thường xuyên trong học tập, để biết, hiểu, nắm vững, làm quen với những việc cần làm trong sản xuất theo định hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải.
 Hiểu, biết, tận dụng phế thải trong sản xuất nông nghiệp ở vườn, trại, ngoài đồng ruộng, chất thải trong sinh hoạt…; sản xuất phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao bón cho cây trồng, cải tạo đất. Tạo môi trường đất, nước ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, con nuôi.
 Hiểu, sử dụng tiến bộ khoa học công nghệ sinh học “vi sinh” vào sản xuất ở vườn, trang trại bằng phân hữu cơ, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu độc hại từ nguồn gốc hóa chất.
 Duy trì được môi trường sinh thái “đất, nước, cây trồng” ở vườn trại sáng - xanh - sạch - đẹp, vẫn đảm bảo thu nhập cao hơn so với phương pháp dùng hóa chất hiện nay.
2.2. Xây dựng thực hiện các mô hình cải tạo đất, môi trường nước mặt, nước ngầm và đa dạng sinh học môi trường sinh thái ở trang trại, vườn hộ nông thôn.
 Huyện hội cùng một số cán bộ hội cơ sở và các nhà vườn, trang trại cùng xây dựng, thực hiện mô hình, rút kinh nghiệm từ đó hướng dẫn hội viên, nông dân cùng thực hiện.
 Trong quá trình xây dựng, thực hiện các mô hình, các chủ nhà vườn trang trại là chủ thể trong thực hiện và hưởng thụ thành quả của mô hình làm ra.
- Mô hình thu gom phế thải trong sản xuất nông nghiệp ở vườn hộ, trang trại, rác thải sinh hoạt của gia đình làm nguyên liệu sản suất phân hữu cơ vi sinh. Mô hình được xây dựng thực hiện ở các nhà vườn, trang trại đại diện cho ba vùng kinh tế trong huyện.
 Anh Hiền ở Thị trấn Nga Sơn, anh Mộc ở xã Nga Yên đại diện cho vùng màu, anh Nhi xã Nga Điền ở vùng biển, anh Nghĩa ở Nga văn và một chủ vườn hộ tại Nga Thiện ở vùng đồng chiêm trũng. Nguyên liệu được thu gom về, ủ với chế phẩm sinh học theo qui trình khoa học công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh. Phân bón sản xuất ra các nhà vườn, trang trại bón cải tạo đất và cho cây trồng. Môi trường đất được cải tạo, tăng độ phì nhiêu, tơi xốp đất, để sản xuất. Cây trồng ở vườn, trang trại phát triển tốt, có khả năng phòng, chống sâu bệnh gây hại.
- Mô hình cải thiện môi trường nước mặt, nước ngầm, tạo môi trường sinh thái, có nguồn nước tốt phát triển cây trồng, con nuôi.
 Hướng dẫn các nhà vườn xây dựng hệ thống tiêu nước, tưới riêng. Đồng thời xây dựng hệ thống ao, bể, hồ chứa nước. Nước cấp cho cây trồng, con nuôi ở vườn hộ, trang trại được lắng, đọng, các tạp chất từng công đoạn của hệ thống, hoặc xử lý bằng chế phẩm sinh học.
 Tổ chức thực hiện chăn nuôi trên đệm lót sinh học, nước thải được xử lý qua bể Biogas trước khi thải, ngấm ra môi trường, thực hiện tại chuồng chăn nuôi lợn ở nhà ông Hạnh, ông Chính xã Nga Thành (làm đệm lót sinh học), xây dựng,  sử dụng bể Biogas tại nhà ông Vượng Nga Thiện từ năm 2016-2017 có kết quả thiết thực.
Các mô hình thực hiện ngày càng tốt hơn, hiệu quả cao hơn, theo phương châm “nuôi nước tốt, mới phát triển được cây trồng, con nuôi”.
 Hướng dẫn, vận động các nhà vườn, trang trại không dùng thuốc diệt cỏ và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học. Thay vào đó dùng các loại phân hữu cơ vi sinh, các chiết suất thảo dược sản xuất trong nước với giá rẻ. Các nhà vườn, trang trại cần sử dụng các loại cây thường có, phổ biến ở địa phương như: tỏi, thanh ngao, hoa vàng…, ngâm, chiết suất thuốc phòng, trừ sâu bệnh cho rau, củ, quả, con nuôi.
 Trồng cây xanh có tỷ lệ che phủ hợp lý, xung quanh vườn nhà, vườn, trang trại đạt tiêu chí: “Sáng - xanh - sạch - đẹp”.
Xây dựng, thực hiện từng việc và đồng bộ theo chu kỳ khép kín, bước đầu có kết quả, góp phần cải thiện môi trường, nước mặt, nước ngầm và môi trường sinh thái, trong sản xuất và cuộc sống hằng ngày.
- Đổi mới cơ cấu sản xuất cây trồng, con nuôi ở vườn, trang trại; ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất theo hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không rác thải nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá trị thu nhập.
Từ những việc đã làm được, những năm đầu, ở các mô hình sản xuất theo hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải ở các vườn, trại.
Hội tiếp tục mở rộng mô hình phát triển kinh tế vườn hộ, trang trại theo hướng đổi mới cơ cấu sản xuất hàng hóa, rau, củ, quả, thịt gà, lợn, tôm thẻ, cá nước lợ, ngọt; ứng dụng công nghệ cao; thực hiện đồng bộ các biện pháp nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải; nâng cao chất lượng hàng hóa, bảo đảm tiêu chí an toàn vệ sinh thực phẩm. 
Vườn trại ông Mộc xã Nga Yên trước đây sản xuất canh tác chủ yếu theo nông nghiệp truyền thống, xa xưa. Vườn, trại trồng quá nhiều loại cây, nuôi nhiều con; đầu tư sức lao động, tiền vốn lớn, song mỗi năm giá trị hiệu quả kinh tế, thu nhập cho gia đình mỗi năm được quá thấp. Cuối năm 2017, 2018 ông lựa chọn lại một số cây, con có lợi thế, tiềm năng, cho năng suất, và phát triển bổ sung mới một số cây con như dưa chuột Nhật Bản, thanh long H14 ruột đỏ, bưởi diễn, dưa kim hoàng hậu, tôm thẻ, hoa cúc màu vàng ở vườn, trại.
Tổ chức sản xuất theo định hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải.
Giành vốn đầu tư, xây dựng nhà lưới, nhà màng, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất theo quy trình canh tác khép kín ở vườn, trại cho từng loại cây trồng, con nuôi. Sản phẩm hàng hóa sản xuất ra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Người lao động trực tiếp sản xuất, canh tác thuận lợi, sức khỏe đảm bảo, giá trị, hiệu quả kinh tế thu nhập hàng năm tăng hơn nhiều so với trước đây. Đất canh tác vườn, trại được cải tạo, tăng độ phì nhiêu. Nhà vườn, trại xanh - sạch - đẹp.
Ông Mai Văn Hào, xã Nga Thành đang chăm sóc vườn dưa
Nhà vườn hộ ông Hào xã Nga Thành, nhiều năm trước đây cũng có tình hình sản xuất nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều loại con nuôi. Sản xuất canh tác theo hình thức phát triển nông nghiệp truyền thống. Riêng cây táo diện tích nhiều nhất, so với các loại cây khác trên vườn. Công sức lao động, tiền vốn đầu tư cho các loại cây trồng, con nuôi không nhỏ, nhưng sau một năm sản xuất, thu nhập cho gia đình, tiền chẳng được bao nhiêu. Những năm gần đây, ông mạnh dạn mở rộng diện tích, lựa chọn những cây ăn quả chủ lực, có giá trị dinh dưỡng cao, giá trị thu nhập khá. Xây dựng kế hoạch, bố trí lại cơ cấu sản xuất trên vườn, tập trung đầu tư trồng các cây ăn quả có khối lượng sản phẩm nhiều như bưởi diễn, thanh long ruột đỏ long đỉnh H14, na chính vụ và trái vụ; chăm sóc bảo vệ duy trì cây nhãn nhiều năm tuổi ở vườn, quả nhiều, chất lượng cao, có nguồn thu nhập khá.
Đầu tư công nghệ cao vào sản xuất cây ăn quả theo hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải. Gắn sản xuất với xây dựng nhà vườn kiểu mẫu, với bảo vệ môi trường sống.
Người lao động trực tiếp sản xuất canh tác trên vườn thuận tiện, không phải chịu áp lực về cường độ, sức lực, phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa chất độc hại, thuốc diệt cỏ hóa chất.
Giá trị thu nhập hàng năm trên sào (500 m2) 50 đến 60 triệu đồng, nhà vườn sáng – xanh - sạch - đẹp.
Môi trường sống được nâng lên, sức khỏe người lao động tăng lên rõ rệt.
Trang trại anh Hùng ở vùng biển xã Nga Tân có diện tích trên 4 ha canh tác.
Thời kỳ đầu mới ra xây dựng trang trại, anh trồng nhiều loại cây, nuôi nhiều loại con, mong sao có nhiều nguồn thu nhập cho gia đình, xóa được đói, giảm được nghèo. Song thực tiễn sản xuất, kết quả sản xuất thu về không hoàn toàn đúng, diễn ra như mong muốn. Trồng nhiều loại cây, nuôi nhiều loại con nhưng hiệu quả nguồn thu nhập hàng năm quá thấp, khó khăn lại tăng lên.
Với khát vọng lớn, anh suy nghĩ, tìm ra cách làm mới, làm sao sản xuất phát triển, hiệu quả kinh tế khá, mới tăng được giá trị thu nhập cho gia đình, mới giảm được khó khăn, tạo ra nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất ở trang trại. Anh bố trí xây dựng kế hoạch sản xuất ở trang trại theo hướng chỉ lựa chọn ba loại cây ăn quả cả ngắn và dài ngày, nuôi tôm thẻ chân trắng, ươm và làm giống tôm thẻ cho khách hàng có yêu cầu trong huyện, ngoài huyện, ngoài tỉnh.
Anh tổ chức lại sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, trồng 400 cây dừa xiêm xung quanh trang trại, 650 cây bưởi diễn, trên 3000 cây ổi Đài Loan. Xây dựng hệ thống ươm tôm giống và nuôi tôm thịt thương phẩm trong nhà màng, ứng dụng công nghệ cao để ươm nuôi tôm thẻ chân trắng, bằng hệ thống bể nổi trên mặt đất, có mái che đảm bảo che mưa nắng, tránh khi thời tiết bất lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của tôm.
Chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây ăn quả, tôm thẻ bằng phân bón hữu cơ, thức ăn giàu đạm, thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
 Hợp tác với công ty trách nhiệm hữu hạn huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận chuyên sản xuất tôm giống bằng công nghệ sinh học. Công ty cung cấp tôm giống có chất lượng và cử cán bộ kĩ thuật, chuyên gia có kinh nghiệm, trách nhiệm hướng dẫn quy trình nuôi, chăm sóc cho khách hàng có yêu cầu sử dụng tôm giống của công ty từ khâu cấp giống đến sản xuất ra tôm thương phẩm.
Sự liên kết hợp tác giữa trang trại với công ty, ngày càng có hiệu quả về kinh tế và độ tin cậy lẫn nhau nhiều năm nay liên tục phát triển; tạo điều kiện cho anh, vừa làm tốt, thực hiện mục tiêu phát triển sản xuất gắn với làm dịch vụ sản phẩm, có hiệu quả ngày càng cao. Sản phẩm hàng hóa sản xuất ra an toàn, chất lượng, giá trị dinh dưỡng khá, đảm bảo tiêu chí an toàn vệ sinh thực phẩm, được người sử dụng tin cậy mua về tiêu dùng ngày càng nhiều.
Giá trị sản xuất hàng hóa ba năm gần đây đạt từ 1,2 tỷ đến 1,5 tỷ đồng/ha. Lợi nhuận mỗi năm đạt khá, tăng thêm giá trị tích lũy cho gia đình. Anh đã và đang dành vốn đầu tư chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao sinh học vào sản xuất, nâng cao chất lượng từng sản phẩm; tiến tới tạo lập sản phẩm sạch, để cung cấp cho người tiêu dùng.
Trang trại xanh - sạch - đẹp, hiệu quả kinh tế cao, góp phần cùng hội viên, nông dân trong xã phát triển nền nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải trong những năm không xa.
2.3. Liên kết cùng hợp tác với nhiều công ty, doanh nghiệp, các nhà khoa học, chuyên gia kĩ thuật nông nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Huyện hội nhận biết, hiểu, thực hiện “nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và không chất thải” là quá trình khép kín trong sản suất, canh tác.
Việc liên kết, cùng hợp tác với nhiều công ty, doanh nghiệp, cán bộ khoa học kĩ thuật, chuyên gia nông nghiệp là việc “cần làm, phải làm”, là vấn đề tất yếu đối với hội làm vườn trang trại, các hội viên, cán bộ làm nghề phát triển kinh tế vườn hộ, trang trại nông nghiệp.
Thực tế diễn ra nhiều năm qua, hội Nga Sơn, các nhà vườn, trang trại cùng hợp tác liên kết thực hiện nhiều nội dung công việc cụ thể, bằng nhiều hình thức phong phú đa dạng, đem lại hiệu quả kết quả cụ thể.
Nhiều công ty, doanh nghiệp phân công cán bộ lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật xuống huyện, vườn hộ, trang trại trực tiếp bồi dưỡng kiến thức, hướng dẫn học viên theo phương châm “cầm tay chỉ việc”, cùng làm, hướng dẫn hội viên tại vườn, trại. Xây dựng mô hình, tài trợ các loại vật tư cần thiết, cùng làm, có hiệu quả, có sức lan tỏa nhanh ra hội viên, nông dân. Cán bộ, hội viên, các nhà vườn, trang trại gắn bó mật thiết và tạo được niềm tin đối với công ty, doanh nghiệp, cán bộ kĩ thuật trong quá trình hợp tác sản xuất dịch vụ, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm.
II. Những kết quả bước đầu làm được.
  Liên tục nhiều năm, Hội Nga Sơn được sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy, ủy ban nhân dân huyện. Hội kiên trì cùng các tổ chức hội cơ sở, các vườn hộ, trại thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế vườn hộ trang trại theo định hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải, bước đầu đạt ba kết quả nổi lên như sau:
1. Kết quả lớn nhất, hội chúng tôi nhận thấy “số đông cán bộ, hội viên, biết, hiểu, nhận thức rõ việc cần làm, phải làm ở trang trại, vườn hộ trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải. Cuối cùng tất cả vì “cuộc sống sức khỏe của con người là trên hết”. Trong tổ chức thực hiện luôn luôn thể hiện là người chủ thể, sáng tạo trong từng việc, từ phạm vi ít đến rộng hơn có kết quả, có sức lan tỏa nhanh ra hội viên, nông dân.
2. Từ kết quả về nhận thức, cách làm sáng tạo, trong tổ chức thực hiện từng việc đến các mô hình, có nhiều việc đem lại kết quả, sức lan tỏa nhanh. Hội viên, nông dân trong huyện đã và đang dành vốn đầu tư, cơ sở vật chất, kĩ thuật, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất các sản phẩm có sản lượng lớn, giá trị thu nhập cao, có yêu cầu sử dụng ngày càng tăng…
Đến cuối tháng 5/2021, có 23/24 xã trong huyện xây dựng được 131.450 m2 nhà lưới, nhà màng sản xuất dưa kim hoàng hậu, rau, củ, quả an toàn. Có 70 nhà vườn được công nhận có sản phẩm rau, củ, quả hàng hóa sản xuất theo tiêu chí VIETGAP. 45 trang trại nuôi lợn, gà, sản xuất thịt lợn, gà thương phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm. Các trang trại nuôi tôm thẻ ở vùng biển, xây dựng ao nổi, bể nuôi tôm bằng bê tông cốt thép nổi trên mặt đất, khung bể cấu trúc bằng thép, mái che bao bọc lưới, nhà màng che nắng, che mưa, giảm thiểu bất lợi của thời tiết, khí hậu, trong quá trình nuôi tôm thẻ. Sản xuất tôm thẻ theo quy trình công nghệ cao, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.
Xây dựng 31 vườn hộ kiểu mẫu, đặt 5 tiêu chí, 10 chỉ tiêu cụ thể (tiêu chí số 9) trong bộ tiêu chí xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. 
Mô hình vườn mẫu của huyện Nga Sơn
3. Hiện nay, các nhà vườn, trang trại, hội viên, nông dân đã và đang từng bước mở rộng diện tích canh tác theo định hướng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải. Sản xuất theo chu kỳ khép kín, dành vốn đầu tư chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất các sản phẩm chủ lực như dưa kim hoàng hậu, dưa kim cô nương, bưởi diễn, thịt lợn, gà thương phẩm, đạt tiêu chí an toàn vệ sinh thực phẩm. Sản phẩm sản xuất ra có địa chỉ của từng vườn hộ, trang trại trong huyện, được nhiều người có yêu cầu sử dụng, tiêu dùng trên thị trường trong huyện, ngoài huyện, trên phạm vi cả nước.
  Những kết quả bước đầu góp phần đưa nền nông nghiệp huyện Nga Sơn đến năm 2019 tất cả các xã và huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Cuối năm 2020, có hai xã Nga An, Nga Trường được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, huyện Nga Sơn có 9 sản phẩm nông nghiệp cả sản xuất và chế biến đã tiêu chí OCOP cao nhất tỉnh.
Quỹ thời gian tổ chức, thực hiện sản xuất ở vườn, trại theo hình thức nông nghiệp truyền thống xa xưa chuyển sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, không chất thải chưa nhiều.
Những tiến bộ, kết quả bước đầu đạt được mấy năm vừa qua là niềm tin, tiền đề, điều kiện mới để hội rút kinh nghiệm. Để biết, hiểu được những khó khăn, vướng mắc, cần phải tháo gỡ, tổ chức thực hiện có kết quả cao hơn trong những năm tiếp theo.
Song vấn đề cơ bản là niềm tin và khát vọng lớn làm giàu của hội viên. Trong sản xuất, cuộc sống cả trước mắt và lâu dài: “Vì sức khỏe con người là trên hết”, là những yếu tố quan trọng để hội vững vàng, kiên trì trong tổ chức thực hiện. Tạo lan tỏa nhanh từ hội viên ra nông dân trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn toàn huyện.
                                                                                                                                                                      Vũ Thế Giao                                                                                                                                                                                                           CT.HVT-Nga Sơn 
 
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI LÀM VƯỜN VÀ TRANG TRẠI THANH HÓA

Chịu trách nhiệm : Chủ tịch Hội : Lôi Xuân Len

Địa chỉ: 47 Mai An Tiêm- Phường Lam Sơn- Thành phố Thanh Hóa - Điện thoại- Fax: 0373.850.935

Website được xây dựng bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Thanh Hóa