Hội làm vườn và trang trại Thanh Hóa
  • Liên kết website
  • Thống kê truy cập
  • Đang online: 6

    Hôm nay: 41

    Đã truy cập: 3253592

Lịch sử phát triển

Trải qua 35 năm hoạt động, phong trào phát triển kinh tế VAC-Trang trại do Hội đề xướng, vận động đã góp phần làm thay đổi diện mạo nền nông nghiệp và nông thôn tỉnh nhà. Mục tiêu hoạt động của Hội luôn được điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn, từ việc giải quyết dinh dưỡng cho hộ gia đình trong thời gian đất nước còn thiếu lương thực, thực phẩm, đến thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và làm giàu vào thời kỳ đổi mới. Và hiện nay là sản xuất theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm, áp dụng công nghệ cao, theo chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh, hội nhập.

Phần thứ nhất

 NHỮNG DẤU MỐC QUAN TRỌNG

Quá trình 35 năm của  Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa có thể phân thành 3 thời kỳ, mỗi thời kỳ có tên gọi khác nhau.

I. Thời kỳ 1983-1989: Hội Nuôi ong tỉnh Thanh Hóa:

Ngày 12/5/1983, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Thị Miện ký Quyết định số 297/TC-UBTH về việc thành lập Hội Nuôi ong Thanh Hóa.

Xác định Hội Nuôi ong Thanh Hóa là tổ chức quần chúng rộng rãi bao gồm những tổ chức, cá nhân nuôi ong trong tỉnh.

Ông Lê Hữu Hinh - Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh kiêm Chủ tịch hội; Ông Đỗ Hữu Nhân - Chi Cục trưởng Chi cục muối làm Phó Chủ tịch hội (đã mất).

Ngày 16/5/1985, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Ngô Ngọc Cư ký Quyết định số 461/QĐ-TCCQ về việc thống nhất hệ thống tổ chức ngành nuôi ong trong tỉnh: Giao cho Hội Nuôi ong thống nhất quản lý toàn bộ hệ thống tổ chức ngành ong trong tỉnh (cả khu vực quốc doanh, tập thể, gia đình nhân dân).

Quốc doanh nuôi ong, lúc bấy giờ có: Xí nghiệp Nuôi ong, Xí nghiệp Vật tư ong, Các trại ong Lam Kinh, Thanh Kỳ, Phố Cát, Đồng Nai, Lâm Đồng.

Ngày 14/3/1987, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Trần Đình Lăng ký Quyết định số 268/TC-UBTH về việc thống nhất tổ chức ngành nuôi ong và ngành làm vườn trong tỉnh, lấy tên: Hội Nuôi ong và Làm vườn tỉnh Thanh Hóa. Hội Nuôi ong và Làm vườn vừa là một tổ chức tập hợp quần chúng làm kinh tế vừa là cơ quan được Tỉnh ủy và UBND tỉnh giao cho nhiệm vụ quản lý hành chính kinh tế ngành ong và làm vườn (kể cả quốc doanh, tập thể, nhân dân) dưới sự bảo trợ của các ngành kinh tế kỹ thuật, chủ yếu là Sở Nông nghiệp.

Ngày 3/4/1987, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Trần Đình Lăng ký Quyết định số 358/QĐ-TCUB về việc công nhận Ban Chấp hành lâm thời Hội Nuôi ong và Làm vườn tỉnh Thanh Hóa, gồm các ông:

Tạ Xuân Dục - Chủ tịch hội (đã mất).

Bùi Quang Vinh - Phó Chủ tịch Thường trực hội.

Ngô Văn Thụ - Ủy viên Thường trực (đã mất).

Lê Văn Xứng - Ủy viên kiêm Giám đốc Công ty ong giống và cây trồng (đã mất).

Ngày 5/5/1987, Phó Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Quách Lê Thanh ký Thông tri số 05/TT-TU về việc thành lập Hội Nuôi ong và Làm vườn từ cơ sở.

Ngày 9/8/1988, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Mai Xuân Minh ký quyết định số 935/QĐ-UBTH về việc chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với Hội Nuôi ong và Làm vườn về Sở Nông nghiệp.

Ngày 14/11/1989, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hữu Hinh có Công văn số 707/NN-UBTH về việc kiện toàn tổ chức Hội Nuôi ong và Làm vườn; Công văn nêu: “Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực UBND tỉnh đã có chủ trương phát triển kinh tế gia đình theo mô hình VAC; nay được sự quan tâm chỉ đạo của Hội những người Làm vườn Việt Nam; Thường trực UBND tỉnh yêu cầu các hội và chi hội ở cơ sở tích cực hoạt động, hướng dẫn các đơn vị kinh tế tập thể và gia đình phát triển mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa kinh tế VAC, cần củng cố và tiến tới kiện toàn tổ chức hội”.

II. Thời kỳ 1990-2007: Hội Làm vườn tỉnh Thanh Hóa

1. Đại hội Đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 1990-1995:

Ngày 22,23/5/1990, Ban Chấp hành lâm thời Hội Nuôi ong và Làm vườn tổ chức mở Đại hội Đại biểu Những người Làm vườn và Nuôi ong toàn tỉnh lần thứ nhất: Bàn định phương hướng hoạt động nhiệm kỳ 1990-1993 và bầu Ban Chấp hành Hội Những người Làm vườn và Nuôi ong tỉnh Thanh Hóa (VAC VINA-TH), gồm 13 người.

Thường trực Tỉnh hội gồm các ông:

Tạ Xuân Dục - Chủ tịch hội.

Nguyễn Thanh Xuân - Phó Chủ tịch hội (đã từ trần).

Đỗ Đình Mật - Ủy viên thư ký.

Được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Mai Xuân Minh ký Quyết định chuẩn y số 599TC/UBTH ngày 21/6/1990 và ngày 13/8/1991 Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam Nghiêm Xuân Yêm ký quyết định số 132/HLV-VP chuẩn y công nhận Hội Làm vườn Thanh Hóa là thành viên của Hội Làm vườn Việt Nam (VACVINA) .

2. Đại hội Đại biểu lần thứ hai, nhiệm kỳ 1995-2002:

Tháng 9/1995, tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ II, ngoài việc đánh giá kết quả công việc đã đạt được của nhiệm kỳ trước, xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ của nhiệm kỳ tới, Đại hội đã chọn bầu được 13 người vào Ban chấp hành. Thường trực Tỉnh hội gồm các ông:

Tạ Xuân Dục - Chủ tịch hội (qua đời vào năm 2000).

Lê Hữu Hinh - Phó Chủ tịch hội.

Đỗ Đình Mật - Ủy viên thư ký (tháng 9/2002 nghỉ chế độ BHXH).

Năm 2001, Ông Lê Hữu Hinh nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh đảm đương nhiệm vụ Chủ tịch hội.

Tháng 4/2002, Ông Khương Bá Tuân, nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được bầu làm Phó Chủ tịch hội.

3. Đại hội Đại biểu lần thứ ba, nhiệm kỳ 2002-2007:

Đại hội diễn ra vào ngày 15/7/2002, đại hội thực hiện nhiệm vụ đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết của đại hội lần thứ II, đề ra phương hướng nhiệm vụ cho nhiệm kỳ khóa III (2002-2007) và bầu cử ban chấp hành Tỉnh hội mới để lãnh đạo thực hiện Nghị quyết do Đại hội đề ra.

Ban Chấp hành Tỉnh hội có 25 người, trong đó Ban Thường vụ 7 người gồm các ông bà: Lê Hữu Hinh, Khương Bá Tuân, Bùi Thị Buôn (nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Hoàng Thị Oanh (cán bộ Tỉnh hội), Phan Đức Trạch (Thư ký nông nghiệp Văn phòng UBND tỉnh), Nguyễn Xuân Sang (Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Lê Ngọc Thông (Thường vụ Hội Nông dân tỉnh).

Thường trực Tỉnh hội, gồm các ông:

Lê Hữu Hinh - Chủ tịch hội.

Khương Bá Tuân - Phó Chủ tịch hội.

III. Thời kỳ từ 12/2007-2017: Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa (HVT-TH)

1. Đại hội Đại biểu lần thứ tư, nhiệm kỳ 2007-2012.

Đại hội lần IV vào ngày 25, 26/12/2007, Đại hội đã thông qua nghị quyết đổi tên hội và điều lệ hội. Chủ tịch UBND tỉnh Mai Văn Ninh có Quyết định số 948/QĐ-UBND, số 950/QĐ-UBND ngày 14/4/2008: Đổi tên Hội Làm vườn Thanh Hóa thành Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa; phê duyệt điều lệ Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa.

Từ đó, Hội thành lập mới 2 đơn vị trực thuộc: Trung tâm hỗ trợ VAC-Trang trại, được Sở Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận là tổ chức hoạt động Khoa học và Công nghệ có nhiệm vụ: “Tư vấn, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây, con có chất lượng vào sản xuất phát triển kinh tế VAC-Trang trại; Xây dựng mô hình, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về: sản xuất phân hữu cơ vi sinh, xây dựng hầm Biogas; Nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển kinh tế VAC-Trang trại; Giới thiệu sản phẩm, hướng dẫn hội viên và chủ trang trại tiếp cận các thông tin mới về giống cây, con có chất lượng trong lĩnh vực nông nghiệp VAC-Trang trại”  và Câu lạc bộ Chủ trang trại tập hợp những chủ trang trại tiêu biểu tự nguyện làm hạt nhân nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào nông nghiệp, sinh hoạt 4 kỳ mỗi năm.

Ngày 8/8/2011, Chủ tịch UBND tỉnh Trịnh Văn Chiến có Quyết định số 2574/QĐ-UBND: Công nhận Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa là Hội có tính chất đặc thù hoạt động trên phạm vi  toàn tỉnh.

Ban Chấp hành Tỉnh hội có 45 người; Trong đó Ban Thường vụ có 9 người,  gồm các ông bà: Lôi Xuân Len (nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh), Phan Đức Trạch, Chu Thị Hằng (nguyên Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh), Khương Bá Tuân, Nguyễn Xuân Sang, Lê Ngọc Thông, Nguyễn Đức Hạnh (Phó Văn phòng UBND tỉnh), Nguyễn Hồng Phong (Tổng Giám đốc Công ty CP Công Nông nghiệp Tiến Nông), Hoàng Thị Oanh (tháng 11/2011, vì lý do sức khỏe, bà Oanh xin nghỉ công tác hội), ông Phạm Ngọc Bốn được bầu bổ sung vào Ban Thường vụ Tỉnh hội).

Thường trực Tỉnh hội gồm:

Ông Lôi Xuân Len - Chủ tịch hội.

Ông Phan Đức Trạch - Phó Chủ tịch hội.

Bà Chu Thị Hằng -  Phó Chủ tịch hội.

Ủy Ban Kiểm tra gồm:

Ông Khương Bá Tuân - Trưởng ban.

Ông Nguyễn Văn Hợi - Ủy viên.

Ông Lê Văn Thành - Ủy viên.

Hội đã được Giám đốc Sở Lao động -Thương binh và xã hội cấp Giấy Chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề (số 2919/2010 ngày 18/11/2010 và số 2641/CNĐKHĐ-SLĐTBXH ngày 30/10/2013).

Ngày 8 tháng 2 năm 2012, Tỉnh hội khai trương trang thông tin điện tử mang tên “nongtraitinhthanh.vn”, nội dung chất lượng tin bài thường xuyên đổi mới, nâng cao, bạn đọc quan tâm  truy cập.

2. Đại hội Đại biểu lần thứ năm, nhiệm kỳ 2012-2017

Đại hội Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa lần thứ V vào ngày 25, 26/12/2012 nhiệm kỳ 2012-2017, Đại hội được đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước trao tặng; Đại hội thông qua Điều lệ sửa đổi Hội Làm vườn và Trang trại cho phù hợp với Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010  của Chính phủ về tổ chức hoạt động quản lý hội. Ngày 30/5/2013, Chủ tịch UBND tỉnh Trịnh Văn Chiến có Quyết định số 1768/QĐ-UBND phê duyệt Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa.

Đại hội bầu 37 Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh hội; trong đó Ban Thường vụ 11 người, gồm các ông bà: Lôi Xuân Len, Phan Đức Trạch, Chu Thị Hằng, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đức Hạnh (đã nghỉ hưu), Lê Ngọc Thông, Phạm Ngọc Bốn, Mai Nhữ Thắng (Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Phó Văn phòng UBND tỉnh, nay là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Mai Bá Luyến (Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nay đã nghỉ hưu), Đinh Văn Hải (Chủ tịch Hội thành phố Thanh Hóa), Lê Thị Loan (nguyên Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn). Ngày 7/8/2016, Ban Chấp hành Tỉnh hội bầu bổ sung ông Hoàng Khắc Hải nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Kỹ thuật chăn nuôi vào Ban Thường vụ Tỉnh hội.

Thường trực Tỉnh hội có các ông, bà:

Lôi Xuân Len - Chủ tịch hội.

Chu Thị Hằng - Phó Chủ tịch hội (30/12/2016, xin thôi tham gia công tác hội).

Phan Đức Trạch - Phó Chủ tịch hội (tháng 9/2015, vì lý do sức khỏe ông Phan Đức Trạch xin nghỉ công tác hội)

Lê Thị Loan - Phó Chủ tịch hội từ tháng 1/2016.

Lê Nam- Nguyên TUV, Phó Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa khóa XIII, Phó Chủ tịch hội từ tháng 3/2017, đến tháng 9/2017 vì việc riêng nên đề nghị thôi tham gia công tác hội.

Hoàng Khắc Hải - Ủy viên trực.

Phạm Ngọc Bốn - Chánh Văn phòng Tỉnh hội.

Ủy Ban Kiểm tra gồm các ông: Lê Ngọc Thông, Đinh Văn Hải, Phạm Ngọc Bốn.

Ngày 20/3/2013, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông ký Giấy phép số 17/GP-XBBT xuất bản bản tin Thông tin Làm vườn và Trang trại, mỗi năm ấn hành 4 số với 600-700 bản mỗi số và mỗi bản có từ 32-34 trang, được in màu 4 chiều.

Hội đã cùng với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường ký kết Nghị quyết Liên tịch phối hợp thực hiện nhiệm vụ công tác (số 07/NQLT-SNNPTNT-HVT ngày 10/5/2013, số 01/NQLT-STNMT-HVT ngày 12/9/2013).

   Phần thứ hai

NHỮNG THÀNH TỰU HOẠT ĐỘNG NỔI BẬT

I. Bảo tồn, phát triển nghề làm vườn góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, làm giàu và hội nhập.

Ngay từ khi thành lập, Hội đã vận động hội viên nông dân khôi phục và phát triển nghề nuôi ong, nghề làm vườn, nghề truyền thống đã gắn bó với cuộc sống của dân ta qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nghề mà những năm chiến tranh kéo dài cùng với khuyết điểm một thời đã bị mai một.

Thực hiện ý tưởng của Bác Hồ “Trên vườn cây, dưới ao cá”, Hội đề xuất và vận động phong trào phát triển kinh tế Vườn - Ao - Chuồng ở khuôn viên hộ gia đình gọi tắt là VAC. Phong trào VAC đi lên từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ chăm lo cải thiện bữa ăn, chống đói, suy dinh dưỡng tiếp đến là có chút sản phẩm để bán và từng bước tiến lên phát triển VAC hàng hóa góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu. Vào cuối năm 1985, Ban Bí thư Trung ương Đảng  có Chỉ thị số 35 về phát triển kinh tế gia đình là cơ sở để Hội phát động phong trào cải tạo vườn tạp, ao hoang, chuồng trống được quần chúng hưởng ứng ngày càng mạnh, mỗi năm có hàng nghìn ha được cải tạo. Đến năm 2002 đã có 80% diện tích vườn tạp của 360.000 hộ được cải tạo, 94% diện tích ao được tu bổ để làm kinh tế VAC.

Công cuộc đổi mới ở nước ta được khởi đầu vào năm 1986. Vào thời gian này, với chính sách đổi mới nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, mở đầu bằng Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13 tháng 1 năm 1981 của Ban Bí thư về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5 tháng 4 năm 1988 của Bộ Chính trị “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ; Nghị quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chuyển nền kinh tế nông nghiệp  nước ta mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, phong trào làm kinh tế VAC-Trang trại do Hội vận động được chuyển hướng để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và làm giàu. Vào thời điểm này, Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng cho dân quản lý để thực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (Chương trình 327). Tỉnh ủy Thanh Hóa có Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 2/6/1999 và Chính phủ có Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 2/2/2000 về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại. Phong trào nhận thầu, nhận khoán các loại đất rừng nghèo kiệt, thùng đào, thùng đấu, đất trũng lầy thụt, đất ven đê, ven sông, cồn bãi được các hội viên mạnh dạn đầu tư cải tạo  thành các mô hình VAC-  Trang trại có hiệu quả.

Kết quả khảo sát của Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa và Cục Thống kê, đến 1/7/2009 toàn tỉnh có 4.028 nông trại: Sử dụng 23.960 ha đất (gồm: 14.212 ha đất lâm nghiệp, 2.687 ha nhận khoán của nông lâm trường, 7.064 ha đất khó giao, nhận thầu thuê của xã); lao động sử dụng thường xuyên trong trang trại là 44.328 lao động (lao động làm thuê chiếm 76,7%); vốn đầu tư 933,4 tỷ đồng, trong đó vốn tự có của trang trại chiếm 80%; giá trị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nông, lâm, ngư nghiệp của các trang trại bán ra năm 2008 đạt 734,8 tỷ đồng, bình quân 182,4 triệu đồng/trang trại. Trang trại sử dụng 3,8% diện tích đất nông nghiệp nhưng mang lại 6,6% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.

Xin được giới thiệu vài mô hình vườn trại trong số những vườn trại tiêu biểu:

- Trang trại tổng hợp của ông Lê Bật Bính (xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn): Nhận đất khai hoang từ năm 1991, nay đã tạo nên trang trại có diện tích 54 ha, gồm rừng trồng 24 ha, ao nuôi cá 15 ha, vườn cây ăn quả 5,3 ha, chuồng trại chăn nuôi 0,5 ha, dịch vụ 0,2 ha. Tổng vốn đầu tư 7,0 tỷ đồng, thu nhập 600 triệu đồng/năm. Trang trại trở thành doanh nghiệp “Thiệp Dũng vào tháng 5/2008, tạo việc làm cho 18 lao động thường xuyên. Hội hỗ trợ: trồng được 1.000 cây bưởi Diễn đang cho thu hoạch quả có chất lượng, ghép cải tạo thành công hàng trăm cây nhãn thực sinh bằng các giống HTM1, HTM2, PHM99.11, kỹ thuật làm phân hữu cơ vi sinh bằng phế thải trồng trọt với men Biovac. Đây là trang trại tổng hợp, nông lâm kết hợp VACR. Đã được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen.

- Trang trại Thanh long ruột đỏ của ông Vũ Ngọc Tuấn, phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Vào năm 2004, ông Tuấn trồng thử nghiệm 70 trụ Thanh long ruột đỏ Đài Loan, đến năm 2007 đã có 800 trụ, đem lại niềm vui cho gia đình. Năm 2010 cùng  Hội đến Viện Cây ăn quả miền Nam, được Viện giới thiệu giống Thanh long ruột đỏ Long Định 1 (LĐ1 hoặc H14) có nhiều ưu điểm vượt trội so với giống Thanh long ruột đỏ Đài Loan. Trở về, ông muốn phá bỏ vườn Thanh long ruột đỏ Đài Loan để trồng bằng giống mới, nhưng các thành viên trong gia đình phản đối kịch liệt. Không chịu bó tay, ông đã thuyết phục được vợ con cho chặt bỏ những cây nhãn vải không còn hiệu quả, trồng được 350 trụ Thanh long ruột đỏ LĐ1. Khi 350 trụ Thanh long ruột đỏ LĐ1 cho lứa quả đầu tiên, so với Thanh long ruột đỏ Đài Loan, giá trị tăng gấp 2 lần, vợ con mới đồng tình thay thế vườn Thanh Long ruột đỏ Đài Loan sang trồng bằng giống Thanh long mới. Đến nay gia đình ông Tuấn có 4 ha Thanh long ruột đỏ LĐ1, những trụ Thanh long ruột đỏ LĐ1 ở tuổi thứ 4 đạt được 30 kg quả/trụ, với giá bán tại vườn 20.000-25.000 đ/kg. Nhận trách nhiệm là Tổ trưởng đầu tiên của Tổ trồng Thanh long của Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa, ông Tuấn đã đoàn kết được tổ viên, hỗ trợ nhau, chia sẻ kinh nghiệm trồng thành công cây Thanh long ruột đỏ trên đất Thanh Hóa. 

- Trang trại tổng hợp của ông Lê Xuân Thành Chủ tịch Hội Làm vườn và Trang trại xã Hà Vinh huyện Hà Trung. Năm 2003, khi Huyện ủy Hà Trung có Nghị quyết 05 về phát triển kinh tế trang trại, ông Thành đã nhận đất để phát triển mô hình trang trại tổng hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm và trồng cây ăn quả. Ông nuôi 1.000 vịt đẻ, 2 ao cá, trong đó 1 ao nuôi cá rô đồng đầu vuông với diện tích 1.800m² nuôi 12 vạn cá giống, sản lượng đạt 14 tấn cá, sau khi trừ chi phí thu lãi 200 triệu đồng. Ao còn lại nuôi các loại cá truyền thống như: trắm, chép, trôi…Tổng thu nhập của gia đình đạt 400 triệu đồng đã trừ chi phí. Với vai trò là Chủ tịch Hội Làm vườn và Trang trại xã, ông Thành thường xuyên gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm với các hội viên, động viên mọi người tích cực lao động sản xuất vươn lên thoát nghèo làm giàu cho gia đình.

- Trang trại ông Nguyễn Duy Vĩnh, xã Bãi Trành huyện Như Xuân. Từ những năm 1990, được Nông trường giao đất giao rừng theo chương trình 327/CT và thuê đất theo Nghị định 02/CP, được 13 ha. Ông Vĩnh xây dựng mô hình trang trại theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, lúa, rau màu, cỏ và chăn nuôi bò, lợn, dê, gà, lợn rừng. Đạt thu nhập vào tốp đầu các trang trại trong huyện từ 350-400 triệu đồng/năm. Tạo việc làm cho 3 lao động thường xuyên có thu nhập 3,5- 4 triệu đồng/tháng và 12-15 lao động thời vụ. Là Chủ tịch Hội xã, ông Nguyễn Duy Vĩnh đã xây dựng được sự đoàn kết trong Ban Chấp hành, tranh thủ sự lãnh đạo, quan tâm của cấp Ủy, chính quyền xã và Hội huyện tiếp nhận chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến hội viên. Hội của xã từ 9 hội viên lên 44 hội viên, thu được hội phí và xây dựng được quỹ hội.

- Trang trại của ông Nguyễn Hữu Nhân (xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn): Thành lập năm 2005, diện tích 3 ha, gồm hệ thống chuồng lợn nái ngoại 100 con và 750 lợn thịt, 2 ha ao vườn trồng Thanh long ruột đỏ, theo mô hình VAC. Tổng vốn đầu tư 4,2 tỷ đồng doanh thu trên 5 tỷ đồng/năm, thu nhập 300 triệu đồng/năm, tạo việc làm cho 12 lao động. Bí quyết thành công của ông Nhân là coi trọng áp dụng các tiến bộ KHCN, đặc biệt là giải pháp thú y, giống, chuồng trại đủ tiêu chuẩn và chăm sóc đàn lợn đúng quy trình kỹ thuật, là một trong hai người đầu tiên thực hiện tiến bộ chăn nuôi trên đệm lót sinh học tại Thanh Hóa. Chủ trang trại được 2 lần nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh, năm 2016 là một trong 60 gương mặt nông dân tiêu biểu của cả nước.

- Trang trại sinh thái VAC của thương binh Nguyễn Mạnh Hùng (Tiểu khu 7, thị trấn Tĩnh Gia): Thành lập năm 2005, tổng diện tích đất 1 ha. Với diện tích ao 3.000m2, đã đầu tư chiều sâu về kỹ thuật để di ương, sản xuất giống cá lóc, cá rô đồng đầu vuông … và nuôi cá thương phẩm đạt hiệu quả cao, thu nhập trung bình 170 triệu đồng/năm. Với hệ thống vườn cây xanh, nhà hàng dịch vụ 7.000m2, ông Hùng thành lập HTX Thương binh và Người tàn tật tạo việc làm thường xuyên cho 25 lao động, có lãi 200 triệu đồng/năm. Ông Hùng đã được Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam tặng 3 Bằng khen, Chủ tịch UBND tỉnh tặng 4 Bằng khen. Ông Hùng là Ủy viên Ban chấp hành Tỉnh hội nhiều khóa, Chủ tịch Hội huyện Tĩnh Gia, tham gia các dự án khoa học công nghệ của Tỉnh hội, chuyển giao được nhiều tiến bộ kỹ thuật đến hội viên trong huyện, trong tỉnh và ngoài tỉnh, như: nuôi cá lóc, cá rô đồng đầu vuông, trồng thanh long ruột đỏ, chăn nuôi trên đệm lót sinh học, máy cấy mạ non không động cơ.

- Trang trại VAC của ông Nguyễn Đăng Khánh (xã Thành Tiến, huyện Thạch Thành): Thành lập năm 2005, tổng diện tích 5,5 ha, là một trong năm người đi tiên phong trồng thành công hiệu quả cây Thanh long ruột đỏ ở Thanh Hóa (4 ha trồng Thanh long ruột đỏ, bưởi, mía, 1,2 ha ao cá, 0,2 ha chuồng trại). Tổng vốn đầu tư 500 triệu, doanh thu 600 triệu, lãi 300 triệu/năm. Chủ trang trại có quyết tâm cao, rất chịu khó học hỏi. Chủ trang trại được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen.

- Chủ vườn Mai Văn Hào, Chủ tịch Hội Làm vườn và Trang trại xã Nga Thành huyện Nga Sơn: Người đã gắn bó với nghề làm vườn từ thập kỷ 80. Ban đầu chỉ có 850m² đất, bố trí nhà ở và công trình phụ 250m², chuồng trại chăn nuôi 150m², ao 300m². Nay được chuyển đổi đất về liền nhà, có 7.800m², bố trí: Trồng 140 gốc Táo Xuân 21 với diện tích 1.500m², năng suất 150kg/cây, giá bán 18.000đ/kg, thu nhập 38 triệu đồng/năm; Trồng 135 cây bưởi Diễn, Da xanh, Quế dương với diện tích 1.500m², năm thứ 2, năm 2016 thu 15 triệu đồng; Trồng 500 cây ổi Đài loan với diện tích 1.000m², thu nhập hàng năm từ 50-60 triệu đồng; Trồng 500 cây na dai với diện tích 2.600m², mỗi năm thu hoạch 2 lứa cho thu nhập 90-120 triệu đồng; Trồng 8.000 cây Đinh lăng dưới tán na và bưởi, sau 5-7 năm trồng mới thu hoach, hàng năm chọn 500-700 cây có trọng lượng 4 kg trở lên, với giá bán 150-170 ngàn đồng/cây có thu nhập 75-85 triệu đồng. Cây Địa liền, cây gia vị trồng dưới tán táo và ổi, hàng năm thu được từ 12-17 triệu đồng. Tổng thu nhập đạt 250-300 triệu đồng/năm (320-380 triệu đồng/ha). Ông Hào phấn đấu có thu nhập 600-700 triệu đồng/ha/năm.

- Năm 2013, từ vùng đất hoang hóa, anh Nguyễn Hoài Châu được UBND xã Liên Lộc huyện Hậu Lộc giao diện tích đất 2,7 ha tại khu đồng Qu‎ýt, thôn 9 đề làm kinh tế trang trại tổng hợp. Sau khi hoàn tất các thủ tục vào tháng 6/2013, anh tiến hành xây dựng trang trại theo đúng cam kết đã trình với UBND xã. Ban đầu trang trại của anh nuôi cá lóc, rô đồng đầu vuông, chạch, chim bồ câu Pháp. Được sự chấp thuận tham gia vào hệ thống cung cấp Thỏ trắng New Zealand của Công ty TNHH Nippon Zoki Việt Nam; năm 2014, anh Châu xây dựng trại 700m² có khả năng nuôi được 500-600 Thỏ cái sinh sản và 3.000 thỏ thương phẩm. Tuy nhiên vẫn không đủ thỏ cung cấp cho Công ty, tháng 9/2015 anh đứng ra thành lập HTX dịch vụ Quyết Tiến gồm 12 thành viên là chủ hộ nuôi thỏ trong huyện và 1 thanh viên xí nghiệp nuôi thỏ Lam Kinh (thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng tại xã Thọ Lâm, Thọ Xuân). Sau khi thành lập HTX, đàn thỏ nái lên 1.200 con cùng với 300 thỏ cái hậu bị, đàn thỏ thương phẩm từ 2.000 con lên 5.000 con, giá bán bình quân 178.000/con thỏ, có trọng lượng ≥ 2,3 kg/con, doanh thu toàn HTX đạt 250 triệu-300 triệu đồng/tháng, tạo việc làm thường xuyên cho 25-30 lao động.

- Anh Nguyễn Xuân Thiên, thôn Triệu Tiền, xã Đông Tiến huyện Đông Sơn:   Năm 2012, thành lập HTX dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp, HTX của anh có 5 máy gặt, 10 máy cấy, 3 máy cày, 1 máy gieo mạ tự động, 1 máy trộn và 47.000 khay làm mạ, mỗi mùa dịch vụ mạ và cấy máy cho nông dân được từ 80-100 ha. Giữa năm 2015, thông qua sinh hoạt sinh hoạt Câu lạc bộ Chủ trang trại được nghe giới thiệu mô hình sản xuất rau quả hoa trong nhà màng. Sau đó, anh đầu tư xây dựng 500m² nhà màng và bố trí sản xuất trong năm, với công thức luân canh: hoa ly - dưa Kim -dưa Kim - rau. Ngay vụ hoa ly đầu tiên cuối năm 2015, anh đã có lãi. Năm 2016, anh Thiên mở rộng diện tích nhà màng lên 1.700m², phát triển diện tích trồng rau quả lên 0,5 ha và ra đời Công ty TNHH sản xuất chế biến bảo quản và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao Thiên Trường 36, tạo việc làm thường xuyên cho 15 lao động và 40-50 lao động thời vụ với mức lương 4 - 4,5 triệu đồng/tháng.

- Ông Gia Văn Khua, dân tộc Mông, bản Lốc Hạ, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, chịu khó học hỏi, đã ghép trồng thành công được 1.000 cây đào (2 ha), năm 2016 thu được 11 tấn quả, bán được 240 triệu đồng.

Chủ trang trại tiêu biểu đạt hiệu quả cao về kinh tế xã hội môi trường đều có đặc điểm chung là: biết liên kết, liên doanh, chia sẻ lợi ích của mình với lợi ích cộng đồng; có ý chí và quyết tâm cao làm giàu từ nông nghiệp; có quá trình tích lũy kinh nghiệm, trí thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh; biết phân tích thị trường, hạch toán được lỗ lãi; tranh thủ  được sự quan tâm tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền địa phương và có sự hỗ trợ từ Hội Làm vườn và Trang trại.

Khi chuyển đổi sang làm trang trại VAC, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi cá, trồng rừng, nhiều hộ nông dân có thu nhập vài trăm triệu, hàng tỉ đồng mỗi năm. Vì vậy, phát triển kinh tế VAC-Trang trại được xác định là một trong giải pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tăng giá trị trên đơn vị diện tích.

Mô hình sản xuất gồm cả 3 yếu tố VAC được mở rộng. Tùy theo địa hình sinh thái của từng nơi mà người nông dân lựa chọn thực hiện 1, 2 hoặc 3 yếu tố, hoặc sáng tạo thêm VACR, VACB (R là rừng, B là khí sinh học - Biogas).

Từ năm 2010 trở lại đây, là giai đoạn vận động phát triển kinh tế VAC-trang trại hàng hóa hướng đến sản phẩm an toàn, thân thiện môi trường, theo chuỗi giá trị đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hội đã, đang tích cực vận động thực hành nông nghiệp tốt cho các cây trồng, các loại vật nuôi như gia cầm, gia súc, thủy sản; xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất: an toàn sinh học, xử lý chất thải nông nghiệp, chăn nuôi trên đệm lót sinh học, chăn nuôi có hầm Biogas, sản xuất phân hữu cơ vi sinh, xử lý gốc rạ tại ruộng, cơ giới hóa đồng bộ, mạ khay, máy cấy, trồng hoa, rau, quả trong nhà màng, nhà kính, bao quả, tưới tiết kiệm nước cho cây ăn quả, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, thương mại điện tử, xây dựng hợp tác xã, liên kết chủ nông trại với doanh nghiệp, với cơ quan khoa học và nhà nước để nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông trại, cung cấp nông phẩm sạch chất lượng cho người tiêu dùng và bảo vệ môi trường.

II. Nâng cao năng lực cho hội viên thông qua hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, thực hiện các mô hình khuyến nông, tập huấn, đào tạo và truyền thông.

1. Thực hiện nghiên cứu ứng dụng tiến bộ Khoa học - Công nghệ, xây dựng mô hình khuyến nông.

Ở Tỉnh hội, hay Hội thành viên (huyện, thị xã, thành phố) hoặc Hội cơ sở (xã, phường, thị trấn) đối tượng trọng tâm là hội viên, hoạt động đều xoay quanh trục là: Hỗ trợ phát triển kinh tế VAC - Trang trai, thực hiện công cuộc cải tạo vườn tạp thành vườn kinh tế hàng hóa theo hướng VietGAHP gắn với thị trường; nghiên cứu ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp mới, khoa học công nghệ sinh học cho hội viên, nông dân, nông trại; nâng cao năng lực hội viên bằng tập huấn kỹ thuật, bằng tham quan mô hình điển hình, bằng mở lớp đào tạo nghề lao động nông nghiệp ngắn hạn theo Quyết định số 1956/QĐ-CP của Chính phủ.

1.1. Trước năm 2007, Hội Làm vườn thực hiện được một số tiểu dự án cho phát triển kinh tế VAC để tạo việc làm nâng cao nhận thức cho hội viên, điển hình như:

1.1.1, Dự án “Xây dựng năng lực cộng đồng thông qua việc sản xuất giống cây trồng tại Thanh Hóa” do tổ chức cứu trợ Mỹ (CRS) tài trợ triển khai ở 7 huyện, xây dựng được 3 cơ sở sản xuất giống cây ăn quả cấp I, 10 điểm giống cây ăn quả cấp II, 2 điểm sản xuất lúa giống thuần.

1.1.2, Dự án “Cung cấp nước sinh hoạt cho hộ gia đình” do IDE tài trợ, từ năm 1997-2001 đã khoan lắp được 47.415 giếng khoan ở 13 huyện thị.

1.1.3, Dự án nuôi Ếch giống Nam Mỹ, giống Thái Lan: năm 2006 đạt được 245 tấn Ếch thương phẩm với giá trị 6,35 tỷ đồng; năm 2007 cung cấp 76900 con Ếch giống, nuôi được 346 tấn Ếch thương phẩm.

1.1.4, Dự án nuôi Gà an toàn sinh học, trồng bưởi Diễn ở xã Bình Sơn, huyện Triệu Sơn, trồng cam tại xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lạc.

1.2. Từ năm 2008 đến 2017, Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa thực hiện thành công 6 dự án Khoa học - Công nghệ, 16 mô hình khuyến nông và 3 dự án do Đại sứ quán Australia tài trợ.

1.2.1, Các dự án Khoa học và Công nghệ:

1.2.1.1, Dự án “Xây dựng mô hình ương nuôi một số giống cá chất lượng cao để phát triển nuôi trồng thủy sản cho các hội viên VAC Thanh Hóa” năm 2008-2009: xây dựng được mô hình di ương và nuôi thương phẩm các giống cá Rô phi lai xa Đài Loan, cá lóc, cá rô đồng ở 9 điểm của 8 huyện. Ngoài các hộ tham gia trực tiếp được hưởng lợi, đã tổ chức được 9 lớp tập huấn kỹ thuật cho 600 người.

1.2.1.2, Dự án “Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại bền vững tại Thanh Hóa”, năm 2009-2010. Thực hiện điều tra khảo sát sơ bộ 4.000 nông trại, điều tra chuyên sâu 40 trang trại điển hình, điều tra phỏng vấn 100 cán bộ chủ chốt cấp xã, huyện, tổ chức 2 cuộc hội thảo cấp huyện, 1 cuộc hội thảo cấp tỉnh với 200 người tham gia … Kết quả của dự án là cơ sở cho Hội tham mưu với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND tỉnh tổ chức hội nghị ngày 9/4/2010 về kinh tế trang trại và có Thông báo số 34/TB-UBND ngày 22/4/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh về “Tình hình phát triển kinh tế trang trại giai đoạn 1999-2009, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp đến năm 2015”.

1.2.1.3, Dự án “ Ứng dụng các tiến bộ KHCN sản xuất giống cá Lóc bằng phương pháp cho đẻ nhân tạo tại Thanh Hóa”, năm 2011-2013. Được chuyển giao từ Khoa Nuôi trồng Thủy sản trường Đại học Cần Thơ. Đào tạo được 6 cán bộ kỹ thuật thành thạo về sản xuất giống cá Lóc. Từ đây Thanh Hóa đã tự túc được một phần giống cá lóc, giúp người nuôi chủ động và giảm chi phí so với việc du nhập giống từ các tỉnh phía Nam, đưa ra được nhiều hình thức và thời vụ nuôi đem lại hiệu quả cao, đặc biệt là hình thức nuôi trên bể xi măng ở vùng ven biển, tổ chức hội thảo phát triển nuôi cá Lóc bền vững…

1.2.1.4, Dự án “ Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình cải tạo vườn nhãn, vải năng suất, chất lượng thấp thành vườn năng suất, chất lượng cao theo hướng VietGAHP tại Thanh Hóa”, năm 2012-2014. Được Viện Nghiên cứu RauQuả Hà Nội và Hội Làm vườn Việt Nam chuyển giao công nghệ, Tỉnh hội và Hội các huyện Triệu Sơn, Thạch Thành, Hà Trung, Vĩnh Lộc đã thực hiện thành công việc ghép cải tạo nhãn lên nhãn và ghép nhãn lên gốc vải, xây dựng được 2 mô hình: ghép cải tạo vườn nhãn tạp thành vườn giống với 135 cây nhãn chín muộn HTM1, HTM2 và PHM99-1.1; và vườn ghép chuyển đổi giống (ghép nhãn lên gốc vải) cả 2 vườn đều đã cho thu hoạch vụ quả đầu; đào tạo được 6 cán bộ kỹ thuật và tập huấn cho 240 người về kỹ thuật cải tạo vườn nhãn vải.

Hội thảo khoa học “Đánh giá hiệu quả mô hình cải tạo vườn nhãn vải”, ngày 19/9/2014, được Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, GS-TS Ngô Thế Dân, TS Lê Đình Sơn - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa, đại diện các cơ quan báo, đài, Trung tâm Nghiên cứu phát triển công nghệ Công ty Cổ phần Công Nông nghiệp Tiến Nông, 40 chủ vườn là những người đã thực hiện và người có nhu cầu cải tạo vườn nhãn vải tham dự, đề nghị mở rộng việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật cải tạo nhãn vải để thúc đẩy phong trào cải tạo vườn tạp. Hiện nay, ghép chuyển đổi nhãn già cỗi sang nhãn chín muộn đang tiếp tục thực hiện ở các huyện Thạch Thành, Hà Trung, Bỉm Sơn, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Tĩnh Gia, TP Thanh Hóa.

1.2.1.5, Dự án “ Ứng dụng tiến bộ KHCN thực hiện chăn nuôi trên đệm lót sinh học tại Thanh Hóa”, năm 2013-2014. Được Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản Học viện Nông nghiệp Việt Nam và TS Nguyễn Khắc Tuấn tác giả chế phẩm Balasa N01 được Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao. Đã đào tạo được 7 cán bộ kỹ thuật, xây dựng thành công 24 mô hình, 515 hội viên/nông dân được tập huấn kỹ thuật chăn nuôi trên đệm lót sinh học, tổ chức hội thảo cấp tỉnh có 61 đại biểu tham gia. Đến tháng 12/2015 có 25/27 huyện trong tỉnh nhân rộng mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học với 6370 m2 nuôi lợn, 2187 hộ có 80.000 m2 đệm lót sinh học nuôi gà vịt. Từ kết quả này, góp phần có căn cứ để Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg, ngày 4/9/2014 về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020 (trong đó có hỗ trợ hộ chăn nuôi xây dựng công trình khí sinh học hoặc đệm lót sinh học). Năm 2015 huyện Nga Sơn chi 1.200 triệu đồng hỗ trợ tất cả các xã thực hiện chăn nuôi trên đệm lót sinh học. Chủ tịch UBND tỉnh có Quyết định số 1671/QĐ-UBND, ngày 17/5/2016 quy định chi tiết một số điều tại Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và số 2278/QĐ-UBND, ngày 29/6/2016 về hỗ trợ chăn nuôi nông hộ năm 2016, trong đó hỗ trợ xây dựng công trình xử lý chất thải chăn nuôi khí sinh học và đệm lót sinh học với số tiền 23 tỷ 344 triệu đồng. Đến hết tháng 10/2017 tất cả 27 Hội huyện trong toàn tỉnh làm được 230.488m² đệm lót sinh học.

Ngày 18/8/2016, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh hóa có Nghị quyết số 05-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường đến năm 2025; Nói về nhiệm vụ bảo vệ môi trường khu vực nông thôn, đã ghi “…Cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại chăn nuôi ở nông thôn, đẩy mạnh thu gom và xử lý các loại phế phụ phẩm trong nông nghiệp và chăn nuôi, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ xây dựng các mô hình sử dụng đệm lót sinh học và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân vi sinh…”.

1.2.1.6, Dự án “ Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng mô hình sản xuất mạ khay công nghiệp phục vụ cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa tại Thanh Hóa”, thực hiện 24 tháng từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2016 với 4 vụ lúa.

Sau 4 vụ  thực hiện đều đảm bảo tiến độ, các nội dung của dự án được nông dân ứng dụng ngay vào sản xuất, như: Xử lý rơm rạ thành giá thể sản xuất mạ khay công nghiệp thay cho mùn cưa, làm dưỡng chất cây trồng, khắc phục tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch vừa lãng phí, vừa gây ô nhiễm môi trường. Đã đào tạo được 7 cán bộ kỹ thuật làm chủ được công nghệ sản xuất rơm rạ thành giá thể mạ khay, công nghệ mạ khay công nghiệp và sử dụng máy cấy Kubota Nhật Bản; 100 cán bộ khuyến nông cơ sở, công nhân kỹ thuật cơ sở mạ khay, máy cấy được tập huấn kỹ thuật; tại hội nghị đầu bờ có sự tham gia của ông Nguyễn Ngọc Túy Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, lãnh đạo huyện Thiệu Hóa, Đông Sơn, lãnh đạo xã Thiệu Công, xã Đông Tiến, Đông Ninh và bà con nông dân đã khẳng định “Mạ khay, máy cấy đã làm thay đổi nhận thức của nông dân, xử lý rơm rạ sau thu hoạch tạo phân mùn hữu cơ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, làm mạ khay bằng giá thể mùn rơm, máy cấy, tác động tích cực đến cơ giới hóa đồng bộ, xây dựng cánh đồng lớn, nâng cao hiệu quả nghề trồng lúa của nông dân”.

Công văn số 2957/SNN&PTNT, ngày 26/9/2016 của Giám đốc Sở NN&PTNT, ghi: “(1) Xác nhận kỹ thuật xử lý rơm rạ tạo thành mùn làm giá thể mạ khay công nghiệp; Kỹ thuật sản xuất mạ khay công nghiệp; Kỹ thuật cấy lúa bằng máy với mạ khay theo đề xuất của Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa. (2) Thống nhất với nội dung bản đề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất mạ khay công nghiệp, cấy lúa bằng máy tại Thanh Hóa của Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa”.

Tất cả các dự án Khoa học - Công nghệ do Hội thực hiện đều được Hội đồng khoa học chuyên ngành cấp tỉnh nghiệm thu. Kết quả quan trọng của các dự án KH-CN là xây dựng được quy trình kỹ thuật tiến bộ mới cho nông nghiệp tỉnh nhà và phương án nhân rộng các mô hình nghiên cứu ứng dụng thành công, được hội viên/nông dân hưởng ứng vận dụng.

1.2.2. Thực hiện 20 nhiệm vụ khuyến nông, nông thôn mới, sau:

1.2.2.1, Mô hình trồng bưởi Diễn do Hội Làm vườn Việt Nam hỗ trợ, năm 2008 trồng được 4 ha, đến tháng 6/2017 đã nhân rộng ra được 452 ha ở nhiều vùng trong tỉnh.

1.2.2.2, Mô hình trồng Thanh long ruột đỏ Long Định 1 (H14), từ việc dẫn dắt 5 hộ trồng thử nghiệm 1,5 ha năm 2010, đến tháng 10/2017 trồng được 220 ha ở 24/27 huyện trong tỉnh, tạo ra vùng trồng thanh long tập trung Thạch Thành 71 ha, Bỉm Sơn 30 ha, Nga Sơn 19 ha, Hà trung 20 ha, Yên Định 12 ha, Đông Sơn 10 ha, Tĩnh Gia 10 ha, Như Thanh 7,5 ha. Nhiều hộ có thu nhập từ cây Thanh long đã đầu tư xây nhà cao tầng, mua thêm đất đai mở rộng quy mô sản xuất, …Thanh long ruột đỏ được Hội Làm vườn và Trang trại du nhập thành công, đem lại hiệu quả cao cho người làm vườn, có lợi sức khỏe của người tiêu dùng.

1.2.2.3, Mô hình xây dựng hầm Biogas, xử lý chất thải chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tái tạo năng lượng, giảm nặng nhọc vất vả cho phụ nữ. Khởi đầu từ ETC Hà Lan thông qua Trung tâm phát triển cộng đồng nông thôn thuộc Hội Làm vườn Việt Nam tài trợ năm 2006 - 2010 xây dựng được 1.100 hầm Biogas VACVINA cải tiến. Từ năm 2011 đến tháng 6/2017 xây dựng được 7.837 hầm Biogas các loại. Hầm Biogas có tác dụng thu gom, xử lý an toàn phân gia súc, gia cầm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở chủ hộ chăn nuôi, tạo điều kiện phát triển chăn nuôi an toàn dịch bệnh, tạo được nguồn khí đốt thay than củi, hạn chế phá rừng, giảm nhẹ lao động bếp núc cho phụ nữ.

1.2.2.4, Mô hình thu gom rơm rạ, rác thải hữu cơ nông nghiệp làm phân hữu cơ vi sinh: Đã, đang và tiếp tục tập huấn chuyển giao công nghệ ủ phân hữu cơ vi sinh từ rơm rạ, phế thải thực vật, nước thải từ hầm Biogas và các loại chế phẩm sinh học như Biovac, Fito Biomix RR, Sumitri. Hàng năm sản xuất được hàng ngàn tấn phân bón hữu cơ vi sinh chất lượng tốt, thực hiện “sạch làng tốt ruộng”, góp phần giảm sử dụng phân bón hóa học, giúp hội viên/nông dân thực hành sản xuất nông nghiệp tốt.

1.2.2.5, Mô hình nuôi Gà an toàn sinh học tại xã Quảng Tiến thị xã Sầm Sơn, năm 2008.

1.2.2.6, Mô hình nuôi Gà an toàn sinh học tại xã Quảng Cư thị xã Sầm Sơn, năm 2009.

1.2.2.7, Mô hình nuôi Vịt an toàn sinh học và nuôi cá Lóc thương phẩm tại xã Quảng Phú thành phố Thanh Hóa, năm 2009.

1.2.2.8, Mô hình nuôi cua đồng tại các xã: Đông Phú huyện Đông Sơn, Tây Hồ huyện Thọ Xuân, Hà Tiến huyện Hà Trung, Hợp Lý huyện Triệu Sơn, năm 2010, 2011.

1.2.2.9,Mô hình nuôi cá rô phi đơn tính Đài Loan tại xã Quảng Phúc huyện Quảng Xương, nuôi Vịt an toàn sinh học tại xã Tượng Lĩnh huyện Nông Cống, năm 2010.

1.2.2.10, Mô hình chuyển giao kỹ thuật nuôi cua biển tại xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương, năm 2012.

1.2.2.11, Mô hình chăn nuôi không chất thải tại xã Đông Hoàng, Đông Minh huyện Đông Sơn, năm 2012, đã hấp dẫn 300 lượt người trong ngoài tỉnh đến tham quan học hỏi.

1.2.2.12, Mô hình chăn nuôi lợn trên đệm lót sinh học tại xã Vạn Hòa huyện Nông Cống, xã Yên Phong huyện Yên Định, năm 2014.

1.2.2.13, Mô hình chăn nuôi lợn và chăn nuôi gà trên đệm lót sinh học tại xã Bãi Trành huyện Như Xuân, năm 2014.

1.2.2.14, Mô hình nuôi Thỏ trắng New Zealand trên đệm lót sinh học tại các xã: Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa, Đông Tân thành phố Thanh Hóa, năm 2015.

1.2.2.15, Mô hình nuôi chim bồ câu Pháp trên đệm lót sinh học tại các xã: Thiệu Trung, Thiệu Phúc huyện Thiệu Hóa, Thị trấn Quan Hóa, Thị trấn Yên Cát huyện Như Xuân, năm 2016.

1.2.2.16, Mô hình sử dụng máy cấy lúa kéo tay tại các xã: Đông  Phú huyện Đông Sơn, Tế Lợi huyện Nông Cống, năm 2016 và xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa, xã Vân Du huyện Như Thanh, xã Yên Ninh huyện Yên Định, xã Hà Thanh huyện Hà Trung năm 2017.

1.2.2.17, Mô hình tưới tiết kiệm nước 3 trong 1 cho cây Thanh long tại xã Đông Quang  huyện Đông Sơn, năm 2016.

1.2.2.18, Mô hình xây dựng nhà màng trồng hoa, rau, quả theo hướng công nghệ cao tại xã Đông Tiến  huyện Đông Sơn, xã Yên Thọ huyện Như Thanh năm 2016, 2017.

1.2.2.19, Mô hình “Trồng Chanh dây có tưới tiết kiệm nước” tại thôn Quang Hòa xã Quang Trung huyện Ngọc Lặc. Trồng 4 ha chanh dây bằng giống Đài Nông 1, dưới dàn Chanh dây trồng nghệ vàng với hệ thống tưới nước tiết kiệm, năng suất đạt 35 tấn/ha, lãi đạt trên 150 triệu đồng/ha.

1.2.2.20, Mô hình “Nuôi bò thịt giống 3B, trồng cỏ có tưới nước tiết kiệm, xử lý phân bò bằng chế phẩm Balasa N01” tại thị xã Bỉm Sơn năm 2017. Giúp nông dân có thêm lựa chọn cách làm hiệu quả trong hoàn cảnh sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là lợn hơi đang bị rớt giá thê thảm.

Tuy kinh phí cho mỗi mô hình không lớn, nhưng mang lại hiệu quả cao cho hội viên/nông dân tham gia, nên được duy trì tiếp tục phát triển; địa điểm thực hiện mô hình là nơi cho hội viên/nông dân đến tham quan học hỏi chia sẻ kinh nghiệm và lan tỏa.

1.2.3. Các dự án do Đại sứ quán Australia tài trợ:

1.2.3.1, Dự án “Ứng dụng công nghệ khí sinh học để xử lý chất thải chăn nuôi, phế thải trong sinh hoạt và nông nghiệp ở làng quê”, năm 2011, được thực hiện tại xã Đông Phú, huyện Đông Sơn. Dự án hỗ trợ 7 hộ đầu tư xây dựng chuồng lợn kết hợp hố xí tự hoại với hầm Biogas - VACVINA và 15 hộ sản xuất phân hữu cơ vi sinh, được cộng đồng dân cư và địa phương hoan nghênh. Ngài Đại sứ Australia Allater Cox đến kiểm tra, trao đổi trực tiếp với dân, đánh giá kết quả của dự án, thăm xã giao UBND tỉnh, làm việc với Tỉnh hội.

1.2.3.2, Dự án “ Xây dựng mô hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô đồng đầu vuông”, năm 2012. Có 12 hộ ở các xã: Quảng Bình huyện Quảng Xương, Thị trấn Tĩnh Gia, Thiệu Tâm huyện Thiệu Hóa, Hợp Lý huyện Triệu Sơn. Ngài Đại quán đến kiểm tra và rất hài lòng với kết quả dự án. Tự tổ chức được giống cá lóc, cá rô đồng đầu vuông và từ kết quả nuôi thương phẩm 2 loại cá này với đa dạng hình thức (nuôi trong ao đất, nuôi trong bể xi măng, nuôi qua đông, nuôi chính vụ) đã tạo ra nghề và sản phẩm mới cho nông dân tỉnh nhà.

1.2.3.3, Dự án “Chuyển giao TBKT chăn nuôi trên đệm lót sinh học nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, tăng thu nhập cho người chăn nuôi tại xã Hà Lan, thị xã Bỉm Sơn”, năm 2015. Dự án hỗ trợ 40 hộ thực hiện chăn nuôi trên ĐLSH (lợn nái, lợn thịt, gà, chim bồ câu). Kết quả vật nuôi trên ĐLSH lớn nhanh, khỏe mạnh, chuồng gần như không còn mùi hôi. Mô hình được lãnh đạo địa phương nghiệm thu và có chủ trương nhân rộng. Đại sứ quán Astralia hoan nghênh.

2. Tổ chức và hoạt động Câu Lạc bộ Chủ trang trại.

Ngoài Câu Lạc bộ chủ trang trại tỉnh, còn có 16 Câu Lạc bộ chủ trang trại thuộc các hội thành viên. Đây là sân chơi tự nguyện của chủ trang trại có ý chí vươn lên hỗ trợ nhau làm giàu, nơi giao lưu chia sẻ hợp tác cùng phát triển.

Câu Lạc bộ chủ trang trại tỉnh do ông Nguyễn Hồng Phong, Ủy viên Thường vụ Tỉnh hội, Tổng GĐ Công ty CP Công Nông nghiệp Tiến Nông làm Chủ nhiệm, sinh hoạt nề nếp 4 kỳ mỗi năm, mỗi kỳ mỗi chủ đề, mỗi kỳ có từ 70-80 chủ trang trại tham gia. Sau 10 năm hoạt động đã có 40 kỳ sinh hoạt với 3.000 lượt người tham gia. Tại buổi sinh hoạt chủ trang trại có lần được giao lưu với  đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, GĐ Sở NN-PTNT, GĐ Sở Tài nguyên-Môi trường, GĐ ngân hàng Nhà nước, chuyên gia nông nghiệp, doanh nhân…tiếp thu đường lối chính sách về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thông tin về ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp mới, về thị trường, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi nhau để nâng cao năng lực và liên kết, hợp tác hỗ trợ nhau trong sản xuất kinh doanh.

Câu Lạc bộ chủ trang trại các Hội huyện: Đông Sơn, Thọ Xuân, Nông Cống, Tĩnh Gia, Thạch Thành, Bá Thước, Yên Định, Thiệu Hóa, Nga Sơn, Hậu Lộc, Sầm Sơn, xã Xuân Du huyện Như Thanh, xã Hà Vinh huyện Hà Trung, Câu lạc bộ nuôi ong của xã Thành Kim, Thạch Thành, của Thị trấn Cẩm Thủy… cũng có những hoạt động theo mô hình của Câu Lạc bộ Chủ Trang trại tỉnh, lôi cuốn hội viên tự nguyện tham gia.

3. Đào tạo nghề và tập huấn kỹ thuật, cho hội viên/nông dân:

Được Giám đốc Sở Lao động -Thương binh và xã hội cấp Giấy chứng nhân tham gia đào tạo nghề về nông nghiệp cho nông dân theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng.

Năm 2011, Tỉnh hội phối hợp với Huyện hội Nông Cống hoàn thành khóa đào tạo nghề ngắn hạn về Quản lý trang trại cho 53 chủ trang trại.

Năm 2013, Tỉnh hội cùng với Huyện hội Nga Sơn, Quảng Xương hoàn thành 2 lớp đào tạo nghề ngắn hạn theo hình thức thí điểm cấp thẻ học nghề: lớp Quản lý trang trại tại huyện Nga Sơn và lớp nuôi cua biển ở xã Quảng Khê, mỗi lớp 35 học viên.

Năm 2015, Tỉnh hội cùng Huyện hội Đông Sơn hoàn thành chương trình lớp đào tạo nghề “Kinh doanh nông trại” tại xã Đông Nam với 40 học viên các xã Đông Nam, Đông Phú, Đông Quang.

Năm 2016, Hội thực hiện đặt hàng của UBND huyện Đông Sơn mở lớp đào tạo nghề 3 tháng Quản lý trang trại cho 36 chủ trang trại các xã Đông Minh, Đông Khê, Đông Ninh, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Thịnh, Đông Văn, Đông Tiến.

Hàng năm các hội thành viên phối hợp với phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, Doanh nghiệp mỗi năm tổ chức hàng trăm lớp tập huấn kỹ thuật nông nghiệp cho vài nghìn hội viên/nông dân.

4. Công tác truyền thông:

- Trang thông tin điện tử “nongtraitinhthanh.vn”: Ngày 9/2/2012, khai trương trang thông tin điện tử của hội. Trang Web đã phát huy hiệu quả về chia sẻ thông tin, cung cấp trí thức, động viên phong trào phát triển kinh VAC - Trang trại. Được bạn đọc quan tâm truy cập.

- Bản tin “Thông tin Làm vườn và Trang trại”: Từ năm 2013 đến nay Thông tin Làm vườn và Trang trại đã xuất bản được 23 số với 13.950 bản cung cấp thông tin về các hoạt động của Hội, tiến bộ công nghệ khoa học mới, gương điển hình làm kinh tế VAC - Trang trại, được gửi tới Hội huyện, cơ sở, tổ chức liên quan.

- Phối hợp với các cơ quan truyền thông của địa phương, Trung ương (Đài PTTH, Báo Thanh Hóa, Báo Kinh tế Nông thôn, VTC16): Thực hiện truyền thông các mô hinh kinh tế trang trại tiêu biểu, hoạt động của Hội, đăng tải trên báo và sóng truyền hình.

III. Tổng kết, nhân rộng điển hình tiên tiến VAC-Trang trại thành phong trào quần chúng:

Trong chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, biện pháp thường được dùng là làm điểm trình diễn, dùng điểm chỉ đạo diện, như nhen nhóm một đốm lửa, đám lửa rồi bùng lên thành biển lửa. Chỉ đạo phong trào làm kinh tế VAC-Trang trại, Hội Làm vườn và Trang trại vận động cũng theo cách làm đó.

Hội lựa chọn một số vấn đề là yếu tố hạn chế nằm trong nhiệm vụ chiến lược phát triển nông nghiệp của địa phương, xây dựng thành dự án VAC - Trang trại, đề xuất đến cơ quan, tổ chức thẩm quyền. Với số kinh phí sự nghiệp khoa học, khuyến nông hoặc từ nguồn tài trợ của tổ chức quốc tế, Hội chọn chủ nông trại có khả năng đối ứng cùng tham gia, tổ chức thực hiện, được kết quả thì tổ chức tham quan hội thảo, truyền thông, đề xuất cho nhân rộng.

1.  Ngày 21/9/2006, Hội đã tổ chức hội nghị 5 năm các điển hình tiên tiến làm kinh tế VAC-Trang trại giỏi. Tại hội nghị, trên 30 chủ trang trại làm kinh tế giỏi đã được Chủ tịch UBND tỉnh, Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam khen thưởng. Chủ tịch Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu ý kiến biểu dương phong trào làm kinh tế VAC-Trang trại của Thanh Hóa và khen ngợi, động viên những người làm kinh tế VAC-Trang trại điển hình.

2. Ngày 3,4/7/2008, Hội chủ trì phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đài phát thanh và Truyền hình tỉnh, các ngành, địa phương tổ chức buổi truyền hình trực tiếp gặp gỡ, giao lưu với các chủ trang trại tiêu biểu và tổ chức thành công hội nghị chủ trang trại lần thứ nhất. Có 305 chủ trang trại và 175 đại biểu là lãnh đạo UBND tỉnh, Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam, các Sở, Ban ngành đoàn thể cấp tỉnh, UBND huyện đã dự hội nghị. Tại hội nghị, 25 chủ trang trại đã được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen. Thành công của hội nghị đã có tác dụng tích cực động viên phong trào phát triển VAC-Trang trại tỉnh nhà.

3. Tổ chức nhiều cuộc tổng kết, hội thảo, tòa đàm tiếp tục đẩy mạnh làm kinh tế VAC-Trang trại hiệu quả bền vững, như:

- Hội thảo “ Nuôi ong mật dựa vào cộng đồng”, Thanh Hóa có tiềm năng lớn để phát triển nuôi ong, nhất là ở trung du, miền núi, ven biển. Nuôi ong không tốn đất, đầu tư vốn và công thấp, nhưng nhanh cho thu hoạch, góp phần giảm nghèo và làm giàu. Từ nhận thực đó, Hội chủ trương đưa nhiệm vụ hỗ trợ khuyến khích phát triển nuôi ong vào chương trình hoạt động thường xuyên, gắn nhiệm vụ nuôi ong với phát triển tổ chức hội. Hội đã tiến hành khảo sát tình hình nuôi ong ở 8 huyện (Cẩm Thủy, Thạch Thành, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Bỉm Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Thiệu Hóa) và 4 xã của huyện Hà Trung, Yên Định. Các địa phương này có 18.327 đàn ong, có hàng chục hộ nuôi từ 100-500 đàn ong, hàng trăm hộ nuôi 40-60 đàn ong thu hiệu quả cao. Phong trào nuôi ong hộ gia đình bắt đầu phát triển theo xu hướng nuôi ong hàng hóa. Hội đã tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm nuôi ong mật, 80 hộ nuôi ong tiêu biểu tham gia. Hội thảo sôi nổi bổ ích, có tác dụng cổ vũ phát triển nghề nuôi ong trong tỉnh. Các huyện hội Thạch Thành, Cẩm Thủy, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Bỉm Sơn … đã quan tâm chỉ đạo phong trào nuôi ong mật. Đến tháng 10/2017 có 69.266 đàn ong cho 338 tấn mật mỗi năm.

- Tọa đàm “Liên kết phát triển cây ăn trái ở Thanh Hóa”: Phối hợp với Công ty Cổ phần Công Nông nghiệp Tiến Nông tổ chức, tham gia của Phó Chủ tịch UBND 6 huyên, đại diện Văn phòng UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, 120 hội viên CLB Chủ trang trại và 2 nhà vườn là chuyên gia về cây ăn quả từ tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, phóng viên các báo và Đài truyền hình. Tọa đàm đã tạo được niềm tin và động viên các nhà vườn, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào trồng cây ăn trái. Nhiều hội viên sau đó đã hợp tác với các nhà vườn Bến Tre, Tiền Giang du nhập giống Thanh long ruột đỏ, Bưởi Da xanh, Cam sành, Bơ … cùng tiến bộ kỹ thuật mới được chuyển giao về ứng dụng  thành công tại Thanh Hóa.

- Ngày 25/7/2014, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công ty Cổ phần Công Nông nghiệp Tiến Nông tổ chức hội nghị tổng kết trồng Thanh long ruột đỏ, với sự tham gia của 150 người, gồm: các chủ vườn Thanh long ruột đỏ có quy mô trên 500 trụ Thanh long, hội viên Câu Lạc bộ Chủ trang trại, 27 Chủ tịch hội thành viên. Phó Chủ tịch Trung ương Hội VACVINA Bùi Sĩ Tiếu, các đồng chí Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, các phóng viên báo và Đài đã tới tham dự. Hội nghị khẳng định sau 5 năm (2010-2014) trồng Thanh long ruột đỏ tại Thanh Hóa đã thu được kết quả, hiệu quả kinh tế cao. Hội nghị có tác dụng chuyển hướng phát triển Thanh long ruột đỏ sang giai đoạn mới, thâm canh theo chiều sâu, thực hiện quy trình trồng chăm sóc Thanh long là then chốt để có năng suất, chất lượng cao và phải liên kết người trồng Thanh long với doanh nghiệp mới có thể phát triển bền vững Thanh long ruột đỏ cũng như các loại cây ăn quả khác.

- Các hội thành viên cũng có cách triển khai tương tự. Hội Nga Sơn tổ chức hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện phong trào cải tạo vườn tạp thành vườn kinh tế hàng hóa, có trên 200 đại biểu tham gia, trong đó có 145 nhà vườn giỏi, UBND huyện đã tặng thưởng cho 51 tập thể hội xã và cá nhân có thành tích làm VAC-Trang trại. Trong 3 năm 2013-2015, Hội Nga Sơn đã chủ động tham mưu phối hợp với các tổ chức liên quan, thực hiện cải tạo được 256,8 ha vườn tạp, trồng mới được 57.829 cây ăn quả các loại.

Đến tháng 10/2017, 27 Hội huyện tổ chức trồng mới được 220 ha Thanh long ruột đỏ, 442 ha bưởi Diễn, 113 ha bưởi Da xanh, 57 ha Nhãn chín muộn, 923 ha cây ăn quả khác như Cam, Dứa, Chuối, Ổi, Dừa xiêm, Mít thái, Xoài…, 333 ha cây dược liệu.

4. Phong trào thi đua học và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức,  phong cách Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế VAC-Trang trại hiệu quả và xây dựng hội vững bền được đẩy mạnh tăng tiến, ngày càng có nề nếp chất lượng, như:

- Thực hiện đăng ký và ký giao ước thi đua hàng năm có mục tiêu, nội dung rõ ràng với chủ đề “ Học tập, làm theo tấm gương, tư tưởng, đạo đức,  phong cách Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế VAC-Trang trại hiệu quả, xây dựng tổ chức hội bền vững” .

- Phân chia 27 hội huyện làm 5 cụm thi đua, mỗi cụm có 5-6 hội thành viên gần nhau, có nhiều nét tương đồng để học hỏi lẫn nhau.

- Thực hiện giao ban thi đua theo cụm 2 lần/năm, thông báo kết quả của mỗi đơn vị, phát hiện điển hình mới, học hỏi chia sẻ kinh nghiệm.

- Hội nghị tổng kết thi đua khen thưởng hàng năm được tổ chức vào cuối tháng 12 hoặc vào những ngày đầu của tháng 1 năm sau. Hàng năm có từ 330-350 tổ chức hội và hội viên được Tỉnh hội và UBND các cấp biểu dương khen thưởng.

Từ năm 2007 đến năm 2017, Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa được trao tặng các phần thưởng, đó là:

- Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước về thành tích xuất sắc trong công tác năm 2007-2011, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (Quyết định số 1223-QĐ/CTN ngày 16/8/2012 của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

- Hai cờ thi đua của Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam về thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua làm VAC, kinh tế trang trại trong 5 năm (2009-2014) và năm 2015 (Quyết định số 13/QĐ-HLV  ngày 25/3/2014 và Quyết định số 25/QĐ-HLV ngày 18/2/2016 và của Chủ tịch Hội Làm vườn Việt nam).

- Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về thành tích xuất sắc góp phần vào sự nghiệp phát triển ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2009 – 2013 (Quyết định số 580/QĐ-BNN ngày 28/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

- Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về thành tích xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2013 (Quyết định số 1816/QĐ-UBND ngày 11/6/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa).

- Bằng khen của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa về thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động do Mặt trận tổ quốc Việt Nam phất động từ 2010-2015 (Quyết định số 61-QĐ/MTTQ ngày 20/3/2015 của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa)

- Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh về thành tích xuất sắc trong tổ chức hoạt động, xây dựng và phát triển Trung tâm học tập cộng đồng giai đoạn 2001-2015 (Quyết định số 4211-QD/UBND ngày 21/10/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa).

- Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh về thành tích xuất sắc trong hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số 5376/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa)

- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: Đã có thành tích trong công tác từ năm 2011 đến năm 2015, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Bảo vệ Tổ quốc (Quyết định số 1240/QĐ-TTg, ngày 1/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ).

- Năm 2017, được Chính phủ tặng cờ Thi đua đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua yêu nước tỉnh Thanh Hóa năm 2016 (QĐ số 1072/QĐ-TTg, 21/7/2017) và Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì (QĐ số 2118/QĐ-CTN, 13/10/2017).

- Hàng năm Chi bộ được công nhận “Chi bộ trong sạch vững mạnh”, 100% Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

Phần thứ ba

NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Tổng kết quá trình hoạt và trưởng thành, có thể rút ra nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm như sau:

1. Hội đã luôn luôn tranh thủ sự lãnh, đạo chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Sở Ngành liên quan, cấp ủy chính quyền các cấp; Chủ động phối hợp, hợp tác với các cơ quan, các đoàn thể, doanh nghiệp… để có sự ủng hộ, tạo điều kiện hỗ trợ về vật chất, tinh thần, tăng thêm nguồn lực cho Hội.

2. Hội có tôn chỉ mục đích đúng đắn, nắm vững tính chất của Hội để hoạt động, vận dụng bước đi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. “Tự nguyện, Trách nhiệm, Thiết thực, Hiệu quả” là phương châm hành động của Hội.

3. Hội đi đúng đường lối quần chúng, từ tuyên truyền vận động, giác ngộ quyền lợi, tổ chức tập hợp lực lượng và phát huy nội lực của hội viên/nông dân tạo nên bước đi vững vàng. Những hoạt động của Hội đã thực hiện qua các giai đoạn như: VAC dinh dưỡng, VACR, VAC-Trang trại…phù hợp với nguyện vọng hội viên/nông dân, cũng là những giải pháp thực hiện các chương trình quốc gia “xóa đói giảm nghèo”; “xây dựng nông thôn mới”; “tái cơ cấu ngành nông nghiệp”; “ứng phó với biến đổi khí hậu”…

4. Tỉnh hội và các hội thành viên coi trọng chăm lo xây dựng mạng lưới, đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu công tác hội.

Hội luôn coi trọng công việc nghiên cứu ứng dụng Khoa học và Công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, phát hiện điển hình, xây dựng mô hình làm VAC-Trang trại hiệu quả, tổng kết nhân rộng điển hình, liên tục dấy lên phong trào thi đua lao động sáng tạo hiệu quả. Trong quá trình vận động, Hội sử dụng tất cả các hình thức như: hội thảo, giao lưu, tham quan, tập huấn, sử dụng các hình thức, phương tiện truyền thông những  tiến bộ kỹ thuật, các kinh nghiệm, mô hình VAC-Trang trại hiệu quả đến hội viên/nông dân.

5. Hội coi trọng công tác ngoại giao nhân dân quan hệ hợp tác với tổ chức quốc tế cùng có mối quan tâm giải quyết xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu.

                                        

 

 

 

 

 

Phần thứ tư

 TẬP TRUNG CỦNG CỐ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC HỘI,

ĐỒNG HÀNH CÙNG SỰ THỊNH VƯỢNG CỦA HỘI VIÊN

I.    Chủ đề tư tưởng hành động:

“Đổi mới - Sáng tạo - Liên kết - Phát triển bền vững”

II. Mục tiêu chung:

Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức Hội, là chỗ dựa tin cậy của hội viên và người làm vườn trại.

Tiếp tục nâng cao năng lực hội viên về đổi mới sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, quản lý kinh doanh nông trại, sử dụng tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường, phát triển kinh doanh vườn trại hiệu quả theo chuỗi giá trị. Khuyến khích hội viên vươn lên thành “Ông chủ, Bà chủ”.

Tăng cường khả năng liên kết, mở mang công việc theo hướng dịch vụ kỹ thuật có thu.

III. Nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp thực hiện:

1. Về công tác Tổ chức hội và phong trào hội viên:

- Quán triệt đầy đủ, sâu sắc Nghị quyết hội nghị lần thứ VI, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Về tổ chức Hội quần chúng, Nghị quyết nêu: “Quy định chặt chẽ việc thành lập tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng; thực hiện nghiêm túc và nhất quán nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và tuân thủ Pháp luật; Nhà nước chỉ cấp kinh phí để thực hiện những nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao”.

- Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức hội, khắc phục tình trạng “Hội hữu danh vô thực”.

- Phấn đấu có ít nhất 75-80% tổ chức hội đạt từ loại khá trở lên: Cơ bản hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng được mô hình vườn trại hiệu quả, có “thương hiệu sản phẩm” được công nhận, hội viên đóng đủ hội phí, hội có vốn quỹ hoạt động.

- Lãnh đạo và cán bộ hội làm việc với tinh thần “Trách nhiệm, Chủ động, Hiệu quả” thường xuyên gần gũi gắn bó với hội viên, động viên hỗ trợ hội viên, hàng tháng có kế hoạch cụ thể, cuối tháng nắm bắt được việc đã làm được, việc chưa làm được, có kế hoạch công tác tháng tiếp theo.

- Ban Chấp hành hội đảm bảo sinh hoạt 6 tháng một lần và tổng kết công tác năm.

- Hội viên phải không ngừng học tập, nâng cao năng lực, chủ động tích cực ứng dụng những tiến bộ mới, thực hiện tốt vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, không sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, trồng trọt, đoàn kết, phấn đấu thành “Ông chủ, Bà chủ” sản xuất kinh doanh thành đạt, tôn trọng pháp luật, đóng đầy đủ hội phí theo quy định của Hội.

- Chủ động phát triển thêm tổ chức hội ở những xã phường chưa có, nhưng thật sự có nhu cầu, có nhân tố sáng lập đủ tiêu chuẩn, khắc phục biểu hiện cầu toàn ngại khó và nóng vội.  

- Chú ý ‎phát hiện vận động những chủ trang trại, người nhiệt tình, có năng lực và điều kiện hoạt động hăng hái tham gia công tác hội.

- Phát triển và tăng cường hoạt động “Câu Lạc bộ chủ trang trại” huyện, xã.

- Hỗ trợ khuyến khích chủ trang trại, hội viên thành lập doanh nghiệp phù hợp, đúng pháp luật.

2. Hỗ trợ phát triển kinh tế vườn trại hiệu quả bền vững:

- Tiếp tục phổ biến tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, Nghị quyết của Tỉnh ủy, cơ chế chính sách của UBND tỉnh Thanh Hóa về: Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững; Xây dựng nông thôn mới; Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; Bảo vệ môi trường; Phấn đấu đến năm 2020 Thanh Hóa trở thành tỉnh khá của cả nước.

- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào cải tạo vườn, đồi, rừng tạp thành vườn kinh tế hàng hóa, vườn sinh vật cảnh, phục tráng rừng luồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng. Hoàn thiện và nhân rộng các mô hình sản xuất đã thực hiện thành công đạt hiệu quả cao, như: Trồng cây Thanh long ruột đỏ giống H14, H5, bưởi Diễn, bưởi Da xanh, các giống Nhãn HTM1, HTM2, PHM 99-1.1, Chuối, Dứa, Cam, Đu đủ, Chanh dây,… rau quả hoa, chè, trồng cỏ chăn nuôi, dược liệu, chăn nuôi trên đệm lót sinh học, nuôi ong mật, nuôi trồng thủy sản, mạ khay, máy cấy, xử lý gốc rạ tại ruộng, làm phân hữu cơ vi sinh.

- Xây dựng các mô hình sản xuất theo hướng nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao, tưới nước tiết kiệm, bao quả, sản xuất trong nhà màng, cơ giới hóa đồng bộ, an toàn thực phẩm, thân thiện môi trường, tăng cường sủ dụng phân hữu cơ, giảm dần phân bón vô cơ, không sử dụng các chất cấm trong sản xuất nông nghiệp.

- Khuyến khích tổ chức hội, hội viên mở các cửa hàng tiêu thụ nông sản an toàn do nông trại và hội viên sản xuất.

- Hỗ trợ hội viên kết nối với doanh nghiệp hình thành chuỗi sản xuất, xây dựng thương hiệu sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho hội viên.

- Thực hiện công tác truyền thông về bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm đến cơ sở hội và hội viên bằng nhiều hình thức. Tổ chức các hoạt động về bảo vệ môi trường, hưởng ứng ngày môi trường Thế giới, Đại dương Thế giới và các sự kiện môi trường hàng năm.

- Tăng cường phối hợp với các ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Ngoại vụ, UBND huyện, Doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân liên quan trong ngoài tỉnh để thực hiện các nhiệm vụ: Khuyến nông, Xây dựng nông thôn mới, Bảo vệ môi trường, Nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, Đào tạo nghề nông nghiệp ngắn hạn cho lao động nông thôn, Vận động tài trợ từ các Tổ chức phi chính phủ.

3. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước thiết thực hiệu quả:

- Phấn đấu là thành viên trách nhiệm của Cụm Thi đua số 11, đóng góp xứng đáng thúc đẩy phong trào thi đua “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh” .

- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Phát triển kinh tế vườn trại hiệu quả và xây Hội vững bền”.

+ Duy trì nâng cao chất lượng tổ chức 5 Cụm thi đua, luân chuyển trách nhiệm Cụm trưởng, Cụm phó thi đua mỗi năm. Thực hiện sinh hoạt định kỳ giao ban cụm 2 lần/năm, lần 1 vào hạ tuần tháng 5 tại Hội Cụm trưởng, lần 2 vào hạ tuần tháng 11 tại Hội Cụm phó.

* Cụm 1, gồm các Hội Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh.

* Cụm 2, gồm các Hội Thường Xuân, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như Xuân, Như Thanh.

* Cụm 3, gồm các Hội Thọ Xuân, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa.

* Cụm 4, gồm các Hội Bỉm Sơn, Nga Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoàng Hóa, TP Thanh Hóa.

* Cụm 5, gồm các hội Đông Sơn, Sầm Sơn, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Nông Cống.

+ Định kỳ sơ kết, tổng kết, tôn vinh tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong phong trào thi đua.

+ Tổ chức sơ kết 6 tháng đầu năm, tổng kết khen thưởng cuối năm.

+ Hàng năm lập thủ tục hồ sơ đề nghị kịp thời đến cơ quan Thi đua Khen thưởng trình cấp thẩm quyền quyết định trao tặng các hình thức khen xứng đáng cho tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc.

4. Thực hiện phong cách làm việc khoa học, thông minh, chuẩn xác, thân thiện, với nội dung chủ yếu sau:

- Trong thực hiện chức năng nhiệm vụ hội “Chọn đúng việc, đúng thầy, đúng thợ” để triển khai đảm bảo thành công.

- Thực hiện chu đáo, nghiêm túc việc tổng kết mô hình, sơ kết 6 tháng, tổng kết năm, phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, khơi tạo nguồn cảm hứng mọi người vươn lên tầm cao hơn.

- Truyền thông rộng rãi những mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả, gương chủ trang trại điển hình, nhiều người chủ động biết đến khảo sát, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, liên kết cùng làm, tạo lan tỏa bền vững.

- Bám sát thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, tiến bộ mới, nhu cầu của cộng đồng, đề xuất ý tưởng, vận động nhiều người tham gia để công việc trôi chảy, liên tục tiến triển.

- Sử dụng máy tính kết nối Internet và suy nghĩ tìm tòi, tự học hỏi là điều kiện cơ bản nâng cao hiệu suất công tác, mở mang tầm nhìn đối với mỗi tổ chức hội, cán bộ, hội viên.

*

*     *

Ba mươi lăm năm, một chặng đường, xây dựng, phát triển và trưởng thành. Mặc dù gặp không ít khó khăn, nhưng được sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh, Thường trực UBND tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa, Thường trực Hội Làm vườn Việt Nam; Sự phối kết hợp thường xuyên có hiệu quả của các Ban ngành, Tổ chức, Doanh nghiệp, Cá nhân; Sự cố gắng nổ lực liên tục của các thế hệ cán bộ hội và hội viên, Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa đã có những đóng góp quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế VAC-Trang trại, góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo mới của nông nghiệp Thanh Hóa.

Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa xin trân trọng cảm ơn Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND, Thường trực UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa, Thường trực Hội Làm vườn Việt Nam, các Ban ngành, Tổ chức, Doanh nghiệp, Cá nhân đã chỉ đạo, hỗ trợ cùng đồng hành trong 35 năm qua và rất mong được sự quan tâm giúp đỡ hơn nữa trong thời gian tới, để Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hóa hoàn thành xuất sắc sứ mệnh, trọng trách của mình./.    

Lôi Xuân Len 

Chủ tịch HVT-TH 

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI LÀM VƯỜN VÀ TRANG TRẠI THANH HÓA

Chịu trách nhiệm : Chủ tịch Hội : Lôi Xuân Len

Địa chỉ: 47 Mai An Tiêm- Phường Lam Sơn- Thành phố Thanh Hóa - Điện thoại- Fax: 0373.850.935

Website được xây dựng bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Thanh Hóa